Khác biệt giữa các bản “Cá voi vây”

n
Qbot: Việt hóa
n (Bot: Adding {{Commonscat|Balaenoptera physalus}})
n (Qbot: Việt hóa)
| status = EN
| status_system = iucn3.1
| status_ref =<ref name="iucn">{{IUCN2008|assessors=Reilly, S.B., Bannister, J.L., Best, P.B., Brown, M., Brownell Jr., R.L., Butterworth, D.S., Clapham, P.J., Cooke, J., Donovan, G.P., Urbán, J. & Zerbini, A.N.|year=2008|id=2478|title=Balaenoptera physalus|downloaded=7 Octobertháng 10 năm 2008}}</ref>
| image = LMazzuca_Fin_Whale.jpg
| image_caption = Một con có voi vây nổi trên mặt nước ở [[Kenai Fjords National Park|Kenai Fjords]], Alaska
Thức ăn của chúng bao gồm cá [[hợp đàn|theo đàn]], [[mực]], và [[giáp xác]] kể cả [[nhuyễn thể]].
 
Như tất cả các loài cá voi khổng lồ khác, cá voi vây bị săn bắn nghiêm trọng trong suốt [[thế kỉ 20]] và là một [[loài bị đe dọa]]. Gần 750,.000 con cá voi vây đã bị đánh bắt ở Bán cầu Nam từ năm [[1904]] đến [[1979]]<ref>http://www.edgeofexistence.org/mammals/species_info.php?id=89</ref> và hiện chỉ còn ít hơn 3,000 cá thể còn tồn tại trong vùng.<ref>http://gdl.cdlr.strath.ac.uk/scotia/gooant/gooant070204.htm</ref> [[Ủy Ban Đánh Bắt Cá Voi Quốc Tế]] (IWC) đã ban hành một lệnh cấm săn bắt thương mại loài cá voi này,<ref>{{cite web|url = http://www.iwcoffice.org/conservation/rms.htm | title = Revised Management Scheme | publisher = [[International Whaling Commission]] | accessdate = 2006-11-07}}</ref> dù [[Iceland]] và [[Nhật Bản]] vẫn tiếp tục săn bắt: năm [[2009]], Iceland bắt 125 con cá voi vây trong mùa săn cá voi, và Nhật Bản đã bắt 1 con trong màu săn Nam Cực [[2008]]-[[2009]]<ref>http://dotearth.blogs.nytimes.com/2009/09/08/us-rebukes-iceland-for-killing-94-fin-whales</ref><ref>http://www.iwcoffice.org/conservation/table_permit.htm</ref>. Loài này cũng bị săn bởi người [[Greenland]]. Va chạm với tàu thuyền và tiếng ồn từ hoạt động của con người cũng là những mối đe dọa cho chúng.
 
==Phân loại==
{{seealso|Sự tiến hóa của cá voi}}
[[ImageHình:Vi-Rorqual phylogenetic tree.svg|lefttrái|thumbnailnhỏ|Một cây tiến hoá thể hiện các loài động vật có họ hàng với loài cá voi vây|alt=Cây phân loại tiến hóa]]
Cá voi vây từ lâu đã được biến đến trong [[phân loại học|giới phân loại học]]. Chúng được mô tả lần đầu tiên bởi Frederick Martens năm [[1675]] và được nhắc lại bởi [[Paul Dudley]] năm [[1725]]. Những mô tả này được sử dụng như nền tảng về loài ''Balaena physalus'' bởi [[Carl Linnaeus]] năm [[1758]].<ref>
{{la icon}}
}}</ref> [[Bernard Germain de Lacépède|Comte de Lacepede]] phân loại lại loài thành ''Balaenoptera physalus'' vào đầu thế kỉ 19. Từ "''physalus''" bắt nguồn từ từ [[Tiếng Hy Lạp|Hy Lạp]] ''physa'', nghĩa là "thổi".
 
Cá voi vây thuộc họ [[cá voi lưng xám#Phân loại|Balaenopteridae]], cùng họ với [[cá voi lưng gù]], [[cá voi xanh]], [[cá voi Bryde]], [[cá voi Sei]] và [[cá voi mũi nhọn]]. Họ này tách ra từ phân bộ [[cá voi tấm sừng hàm|Mysticeti]] tồn tại từ giữa [[thế Miocene]],<ref name="evolution">{{cite book |isbn = 0071427848 | title = McGraw-Hill Yearbook of Science & Technology | year = 2004 | publisher = The McGraw Hill Companies | chapter = Whale Evolution | author = Gingerich, P.}}</ref> dù chúng không được biết đến khi thành viên các họ này phân hoá vào các loài riêng biệt. [[Lai (sinh học)|Con lai]] giữa [[cá voi xanh]] và cá voi vây được cho rằng tồn tại ở Bắc [[Đại Tây Dương]]<ref name="berube and aguilar">{{cite journal | author = Bérubé, M. | coauthors = A. Aguilar | title = A new hybrid between a blue whale, ''Balaenoptera musculus'', and a cá voi vây, ''B. physalus'': frequency and implications of hybridization | journal = Mar. Mamm. Sci. | volume = 14 | pages = 82 – 98 | year = 1998 | url=http://www.blackwell-synergy.com/doi/abs/10.1111/j.1748-7692.1998.tb00692.x?cookieSet=1&journalCode=mms | doi = 10.1111/j.1748-7692.1998.tb00692.x}}</ref> và ở Bắc [[Thái Bình Dương]].<ref name="doroshenko">{{cite journal | author = Doroshenko, V.N. | year = 1970 | title = A whale with features of the fin and blue whale (in Russian) | journal = Izvestia TINRO | volume = 70 | pages = 225–257 }}</ref> Bằng chứng gần đây về DNA chỉ ra rằng cá voi vây có thể còn có họ hàng gần với [[cá voi xám]] (''Eschrichtius robustus'') và [[cá voi lưng gù]] (''Megaptera novaeangliae''), hai loài cá voi thuộc hai chi khác nhau, cũng như là [[cá voi mũi nhọn]].<ref>{{cite journal|title=Cetacean mitochondrial DNA control region: sequences of all extant baleen whales and two sperm whale species|author=Arnason, U., Gullberg A. & Widegren, B.|journal=Molecular Biology and Evolution|volume=10|pages=960–970|date=1 Septembertháng 9 năm 1993|url=http://mbe.oxfordjournals.org/cgi/content/abstract/10/5/960|accessdate=2009-01-25|pmid=8412655|issue=5}}</ref><ref>{{cite journal|title=Mitochondrial Phylogenetics and Evolution of Mysticete Whales|author=Sasaki, T. et al.|journal=Systematic Biology|volume=54|issue=1|pages=77–90|year=2005|date=February 23, tháng 2 năm 2005|doi=10.1080/10635150590905939|url=http://www.informaworld.com/smpp/content~content=a716097098~db=all|accessdate=2009-01-25|pmid=15805012}}</ref> Nếu các nghiên cứu trong tương lai khẳng định điều này, sự phân loại này có thể phải điều chỉnh.
 
Năm 2006, có hai [[phân loài]] được đặt tên, mỗi phân loài khác biệt về đặc trưng cơ thể và sự phát âm. Cá voi vây phương Bắc, ''B. p. physalus'' (Linnaeus 1758), sinh sống ở Bắc Đại Tây Dương, và cá voi vây Nam Cực, ''B. p. quoyi'' (Fischer 1829), tồn tại ở [[Nam Đại Dương]].<ref name="itis">{{ITIS | ID = 180527 | taxon = Balaenoptera physalus | year = 2006 | date = 23 October}}</ref> Nhiều chuyên gia xem xét cá voi vây vùng Bắc Thái Bình Dương là phân loài thứ ba chưa đươc đặt tên.<ref name="nmfs"/>.
1.364.640

lần sửa đổi