Khác biệt giữa các bản “Cuộc đời Giêsu theo Tân Ước”

n
Qbot: Việt hóa
n (Qbot: Việt hóa)
 
==Giáng sinh và Thời thơ ấu==
[[HìnhTập tin:Gerard van Honthorst 002.jpg|nhỏ|trái|''Các mục tử tìm đến tôn thờ Ấu Chúa'' của [[Gerard van Honthorst]]]]
Theo Matthew và Luca, Chúa Giê-xu sinh ở [[Bethlehem]] xứ [[Judea]] bởi nữ đồng trinh [[Maria|Mary]], do "quyền năng siêu nhiên" của [[Chúa Thánh Linh]]. Phúc âm Lu-ca thuật lại sự kiện [[thiên sứ]] [[Gabriel]] đến gặp Mary để báo tin cô đã được chọn để mang thai Con [[Thiên Chúa]].<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%201:%2026-38&version=19 Phúc âm Lu-ca 1: 26-38]</ref> Tín hữu Công giáo gọi sự kiện này là [[Lễ Truyền tin]]. Cũng theo Lu-ca, Mary và Joseph, bởi chiếu chỉ của [[Caesar Augustus]], phải rời nhà mình ở [[Nazareth]] để trở về quê hương của Joseph thuộc dòng dõi của [[Vua David]] để đăng ký vào sổ dân. Sau khi sinh hạ hài nhi Giê-xu, hai người phải dùng một máng cỏ làm nôi bởi vì không có chỗ trong quán trọ. Theo Lu-ca 2: 8-20,<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Lu-ca%202:8-20&version=19 Phúc âm Luca 2: 8-20]</ref> một thiên sứ đã loan tin giáng sinh cho những người chăn chiên để họ tìm đến chiêm ngưỡng rồi họ báo tin mừng đến khắp nơi trong vùng. Matthew thuật lại câu chuyện Những nhà thông thái mang lễ vật đến cho hài nhi Giê-xu trong cuộc hành trình được hướng dẫn bởi một vì sao mà họ tin là dấu hiệu báo tin giáng sinh của Đấng [[Messiah]] hoặc Vua của dân Do Thái.
 
 
==Báp têm và chịu cám dỗ==
[[HìnhTập tin:Ary Scheffer - The Temptation of Christ (1854).jpg|nhỏ|phải|200px|''Chúa chịu cám dỗ'', [[Ary Scheffer]], thế kỷ 19]]
Phúc âm Mark bắt đầu với sự kiện Chúa Giê-xu chịu [[báp têm]] (phép rửa) bởi Giăng Báp-tít (''Gioan Tẩy giả''), được các học giả [[Kinh Thánh]] xem là điểm khởi đầu thánh chức của ngài trên đất. Theo ký thuật của Mark, Chúa Giê-xu đến sông Jordan, nơi Giăng Báp-tít vẫn giảng dạy và làm báp têm cho đám đông. Sau khi Chúa Giê-xu chịu lễ báp têm và bước lên khỏi nước thì, theo lời thuật của Mark, ''"Ngài thấy các từng trời mở ra, và Chúa Thánh Linh ngự xuống trên Ngài như chim bồ câu. Lại có tiếng từ trên trời phán rằng: Ngươi là Con Yêu dấu của ta đẹp lòng ta mọi đường”'' (Mark 1: 10-11). Lu-ca bổ sung những chi tiết tuần tự kể rằng Giăng Báp-tít khởi sự giảng dạy vào năm thứ 15 đời [[Tiberius Ceasar]] (khoảng năm 28 CN.), và Chúa Giê-xu chịu lễ báp têm lúc ngài khoảng ba mươi tuổi.<ref>''"Khi Chúa Giê-xu khởi sự làm chức vụ mình thì Ngài độ ba mươi tuổi."'' – Phúc âm Lu-ca 3: 23</ref> Matthew bổ sung cho các ký thuật khác chi tiết Giăng từ chối làm lễ báp têm cho Chúa Giê-xu, nói rằng chính Chúa Giê-xu mới là người xứng đáng cử hành lễ báp têm cho Giăng. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu nhấn mạnh rằng việc ngài chịu lễ báp têm là để ''"làm trọn mọi việc công bình"''.<ref>''"Khi ấy, Chúa Giê-xu từ xứ Ga-li-lê đến cùng Giăng tại sông Jordan, đặng chịu người làm phép báp têm. Song Giăng từ chối mà rằng: Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp têm, mà Ngài trở lại đến cùng tôi sao! Chúa Giê-xu đáp rằng: Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn vâng lời Ngài."'' – Phúc âm Matthew 3: 13 – 15</ref> [[Phúc âm Giăng]] tập chú vào lời chứng của Giăng Báp-tít nhìn thấy Chúa Thánh Linh như chim bồ câu đậu trên mình Chúa Giê-xu, và nhận biết ngài là "Chiên con của Thiên Chúa", và là Chúa Cơ Đốc (nghĩa là đấng chịu xức dầu để trị vì).
 
 
==Thi hành Thánh chức==
[[HìnhTập tin:Bloch-SermonOnTheMount.jpg|trái|nhỏ|250px|[[Bài giảng trên núi]],<br/> tranh của [[Carl Heinrich Bloch]], thế kỷ 19]]
Theo các sách Phúc âm, Chúa Giê-xu là Đấng Messiah, ''"Con Thiên Chúa"'', ''"Chúa và Thiên Chúa"''. Ngài đến để ''"phó mạng sống mình làm giá chuộc nhiều người"'' và ''"giảng tin mừng của Nước Trời"''. Các sách Phúc âm cũng thuật lại rằng Chúa Giê-xu đi khắp nhiều nơi để rao giảng tin lành và làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi quỷ, đi trên mặt nước, hóa nước thành rượu, và khiến kẻ chết sống lại như trong câu chuyện của [[Lazarus]].<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?book_id=50&chapter=11&version=19 Phúc âm Giăng 11: 1 – 44]</ref>
 
Chúa Giê-xu thường tranh luận với giới lãnh đạo tôn giáo của dân Do Thái. Ngài bất đồng với người [[Sadducee]] vì họ không tin vào sự sống lại của người chết.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2022:23-32;&version=19; Phúc âm Matthew 22: 23-32]</ref> Mối quan hệ giữa Chúa Giê-xu và người [[Pharisee]] còn phức tạp hơn. Mặc dù thường quở trách người Pharisee là ''đạo đức giả'', Chúa Giê-xu vẫn mở ra cho họ cơ hội tiếp cận với giáo huấn của ngài bằng cách cùng ăn tối với họ, giảng dạy tại các hội đường, và xem một số người Pharisee như [[Nicodemus]] là môn đồ.
 
[[HìnhTập tin:First century palestine.gif|nhỏ|230px|phải|Xứ Judaea và Xứ Galilee trong thời Chúa Giê-xu]]
Chúa Giê-xu sống gần gũi với những người bị xã hội khinh rẻ như giới thu thuế (nhân viên thuế vụ của [[Đế chế La Mã]], thường bị khinh miệt vì lợi dụng chức quyền để nhũng nhiễu), trong đó có Matthew (về sau là một trong [[Mười hai Sứ đồ]]); khi người Pharisee chỉ trích Giê-xu vì thường tiếp xúc với kẻ [[tội lỗi]], Chúa Giê-xu đáp lại rằng chỉ có người bệnh mới cần đến thầy thuốc, không phải người khỏe mạnh hoặc tưởng mình là khỏe mạnh,<ref> [http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%209:9-13;&version=19; Phúc âm Matthew 9: 9-13]</ref> ''"Hãy đi và học cho biết câu này nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của tế lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội"''. (Matt. 9: 13). Theo Lu-ca và Giăng, Chúa Giê-xu tìm đến để rao giảng phúc âm cho cộng đồng Samaria (những người theo một hình thức biến dị của [[Do Thái giáo]] và bị người Do Thái xem là tà giáo) cạnh giếng [[Jacob]] tại [[Sychar]]<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=John%204:1-42;&version=19; Phúc âm Giăng 4: 1-42]</ref>
 
 
Khi đang ở trong vườn Gethsemane, lính La Mã tìm đến vây bắt Chúa Giê-xu theo lệnh của [[Tòa Công luận]] (''Sanhedrin'') và thầy thượng tế [[Caiaphas]] (về sau được nhắc đến trong Matthew 26: 65-67<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2026:65-67;&version=19; Phúc âm Matthew 26: 65-67]</ref>). Nhà chức trách quyết định bắt giữ Chúa Giê-xu vì xem ngài là mối đe dọa cho quyền lực của họ, vì cách thức Chúa dùng để diễn giải Kinh Thánh và vì Chúa thường vạch trần sự giả trá của họ trong đời sống tôn giáo. Họ tìm cách bắt Chúa Giê-xu vào ban đêm hầu tránh bùng nổ bạo loạn vì ngài được dân chúng yêu mến.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Mark%2014:2;&version=19; Phúc âm Mark 14. 2]</ref> Theo các sách Phúc âm, [[Judas Iscariot]], một trong các sứ đồ, phản bội Chúa Giê-xu bằng cách ôm hôn ngài để giúp binh lính có thể nhận diện ngài trong bóng đêm. Một môn đồ, [[Peter]] (''Phêrô'' hoặc ''Phi-e-rơ'') dùng gươm tấn công những kẻ đến bắt giữ Chúa Giê-xu, chém đứt tai một người, nhưng theo Phúc âm Luca, Chúa Giê-xu chữa lành cho người ấy.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Luke%2022:51;&version=19; Phúc âm Lu-ca 22: 51]</ref> Ngài quay sang quở trách Peter rằng ''"Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm sẽ bị chết vì gươm"'' (Matthew 26: 52). Sau khi Chúa Giê-xu bị bắt, các môn đồ tản lạc nhiều nơi để ẩn trốn. Thầy Thượng tế và các trưởng lão tra hỏi Chúa Giê-xu ''"Ngươi là Con Thiên Chúa sao?"''; ngài đáp: ''"Chính các người nói ta là Con Ngài"'' (Lu-ca 22: 70-71). Chúa Giê-xu bị Tòa công luận buộc tội phạm thượng. Thầy Thượng tế giao ngài cho Tổng đốc La Mã [[Pontius Pilate]] với cáo buộc phản loạn vì cho rằng Giê-xu tự nhận mình là Vua dân Do Thái.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:11;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 11],</ref><ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Mark15:12;&version=19; Phúc âm Mark 15: 12]</ref>
[[HìnhTập tin:Paolo Veronese 010.jpg|nhỏ|trái|200px|Chúa bị đóng đinh, tranh [[Paolo Veronese]], thế kỷ 16th.]]
Khi Pilate hỏi Chúa Giê-xu ''"Có phải ngươi là Vua của dân Do Thái không?"'', ngài trả lời: ''"Thật như lời ngươi nói"''. Theo các sách phúc âm, Pilate nhận biết Chúa Giê-xu không phạm tội gì chống nghịch chính quyền La Mã, vì vậy theo tập tục, vào dịp lễ Vượt qua tổng đốc La Mã sẽ phóng thích một tù nhân, Pilate yêu cầu đám đông chọn giữa Giê-xu người Nazareth và một kẻ phiến loạn tên [[Barabbas]]. Đám đông, theo sự xúi giục của giới lãnh đạo Do Thái, muốn Barabbas được tha và Giê-xu bị đóng đinh. Theo Phúc âm Matthew, Pilate rửa tay mình để bày tỏ rằng ông vô tội trong quyết định này.<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:11-26;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 11-26]</ref> Pilate, vì cố xoa dịu cơn phẫn nộ của đám đông, cho đánh đòn Chúa Giê-xu. Song đám đông tiếp tục đòi hỏi Giê-xu phải bị đóng đinh. Trong cơn cuồng nộ, họ gào thét, "Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự," và khẳng định trách nhiệm của họ về cái chết của Giê-xu, "Huyết nó sẽ đổ lại trên chúng tôi và con cái chúng tôi!".<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:%2021-26;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 21-26]</ref> Cuối cùng Pilate chịu nhượng bộ. Những người lính La Mã đan một mão bằng gai và đặt trên đầu ngài, rồi quỳ xuống mà chế giễu "Mừng Vua dân Do Thái".<ref>[http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2027:%2027-31;&version=19; Phúc âm Matthew 27: 27-31]</ref>
 
 
==Phục sinh và Lên Trời==
[[HìnhTập tin:Grunewald - christ.jpg|nhỏ|phải|170px|Một họa phẩm thế kỷ 16 miêu tả [[Sự Phục sinh của Chúa Giê-xu]] của [[Matthias Grünewald]]]]
Theo các sách Phúc âm, Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết sau ba ngày kể từ khi bị đóng đinh trên cây thập tự. Phúc âm Matthew thuật lại một thiên sứ hiện ra bên ngôi mộ và báo tin sự sống lại của Chúa Giê-xu cho những phụ nữ khi họ đến xức xác theo tục lệ. Quang cảnh hiện ra của thiên sứ đã làm các lính canh hôn mê.<ref> [http://www.biblegateway.com/passage/?search=Matthew%2028:2-4;&version=19; Phúc âm Matthew 28: 2-4]</ref> Trước đó, thầy thượng tế và người Pharisee xin Pilate cho lính đến gác mộ vì họ tin rằng các môn đồ sẽ tìm cách cướp xác. Vào buổi sáng phục sinh, Chúa Giê-xu hiện ra với [[Mary Magdalene]]. Khi Mary nhìn vào ngôi mộ, hai thiên sứ hỏi bà tại sao khóc; và khi bà nhìn quanh, thấy Chúa Giê-xu nhưng không nhận ra cho đến khi ngài gọi bà.
 
1.364.640

lần sửa đổi