Khác biệt giữa các bản “Kinh tế nhà Minh”

không có tóm lược sửa đổi
n (Qbot: sửa lỗi chính tả)
Toàn bộ đất đai đã bị phá hủy bởi tầng lớp cai trị người [[Mông Cổ]], bởi chiến tranh và bởi swj tham nhũng của các chính quyền địa phương, chính vì vậy có yêu cầu cấp bách phải cải cách và xây dựng lại nền kinh tế một cách triệt để nhất là ở miền Bắc [[Trung quốc]]. Những thảm họa thiên nhiên xảy ra vào cuối của [[nhà Nguyên|đời Nguyên]] đã dẫn đến tai họa cho hầu khắp nhân dân sống trong lưu vực sông [[Hoàng Hà]]. Những cánh đồng, các con đập và kênh tưới tiêu phải được sửa chữa và xây lại. Các công trình tái trồng rừng và thủy lợi lớn đã được thực hiện đến hết thế kỷ 14. Nhà Minh do vậy đã ngày càng phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp chứ không phải là thương mại như [[nhà Tống]] khi đó phần lớn thu nhập từ thuế của nhà nước là từ các hoạt động thương nghiệp và buôn bán. Và để có thể thu thuế nhiều nhất nhà Minh đã cần đến các cuộc điều tra dân số chính xác. Chỉ duy nhất trong giai đoạn cuối của nhà Minh, chính quyền mới lơ là công tác điều tra nhân khẩu này. Theo sự phân loại dân số truyền thống, và theo mô hình các mục thuế của chính quyền Mông Cổ trước đó, tất cả người dân chịu thuế trong suốt cả cuộc đời của họ và trong nhiều thế hệ kế tiếp nhau đều được chia ra làm các hạng binh lính, nông dân và thợ thủ công. Các thuế tương ứng cho từng hạng dân được thu bởi các bộ chủ quản tương ứng là các [[bộ Hộ]], [[bộ Binh]] và [[bộ Công]]. Mô hình khung mang tính lý thuyết như trên được bắt đầu đưa vào thực hiện từ đầu đời Minh đã không có tính khả thi cho các thế hệ sau này. Sự suy yếu của các Hoàng đế và triều đình trung ương cuối triều Minh được thể hiện qua việc các chính quyền địa phương đã không thể thu thuế được nếu không có sự hỗ trợ của tầng lớp địa chủ tại địa phương. Việc xác định và phân loại mang tính áp đặt của [[Nhà nước]] đối với hoạt động kinh tế đã bắt đầu suy giảm từ đầu thế kỷ 15. Các gia đình nông dân đã trở thành nạn nhân của tầng lớp địa chủ và bắt đầu phải làm thuê cho họ bằng phương thức [[cấy rẽ]]. Rất nhiều nông dân đã trở nên quá nghèo đến mức phải đi làm cướp, buôn lậu hay làm phu mỏ trong các khu mỏ tư nhân mà theo luật pháp bị nhà nước cấm không cho phép khai thác. Các vấn đề tương tự cũng khiến các gia đình làm nghề thủ công và binh nghiệp tuy vẫn phải phục vụ cho Nhà nước nhưng mức lương bổng mà Nhà nước trả đã thấp hơn giá thị trường. Ý định ban đầu của các triều đại đầu đời Minh muốn giải phóng nông dân khỏi phải chịu cảnh bắt lính khi có chiến tranh bằng cách duy trì quân đội chuyên nghiệp đã bị phá sản và chính quyền quay trở lại cách tuyển lính theo truyền thống. Thợ thủ công của Nhà nước làm việc trong các xưởng của Nhà nước như xưởng gốm sứ ở Jingdezhen 景德鎮/Jiangxi ([[Cảnh Đức Trấn]], [[Giang Tây]]) đã trở nên ngày càng ít hơn vì họ đã tự bỏ tiền ra mua tự do cho mình và mở các xưởng tư. Bạo loạn và nổi dậy bắt đầu xảy ra từ thế kỷ 15, mà một số là do các lãnh đạo tôn giáo đứng đầu, nhưng phần lớn đều do các nguyên nhân kinh tế như cuộc nổi dậy của phu mỏ do Deng Maoqi 鄧茂七 lãnh đạo năm 1448 và khởi nghĩa của Li Zicheng 李自成 ([[Lý Tự Thành]]) đã dẫn đến sự chấm dứt của nhà Minh. Từ thế kỷ 11 nhà Tống đã phát hành tiền giấy trước rất lâu tiền giấy của nhà Minh. Nhưng nhà Minh là triều đại cuối cùng sử dụng dụng tiền giấy một cách rộng rãi: tiền giấy được phát hành nhưng lại không được quy đổi thành tiền xu và do đó dẫn đến [[lạm phát]] leo thang một cách nhanh chóng. Từ thế kỷ 15 đĩnh bạc (liang 兩, người phương Tây gọi là tael, xuất sứ từ một từ Mã lai) đã bắt đầu thay thế dần tiền giấy và đóng vai trò làm tiền tệ chính bên cạnh tiền xu vẫn còn được duy trì cho đến tận hết [[nhà Thanh]]. Bạc được nhập khẩu từ [[châu Mỹ]], lại thêm một bằng chứng về việc các hoạt động hàng hải và thương mại của Trung hoa lúc bấy giờ không hề chấm dứt cho dù có nạn cưới biển trên biển [[Đông Hải (biển Trung Quốc)|Đông Hải]] lúc bấy giờ. Nhà Minh, Trung quốc là nước nhập khẩu và xuất khẩu lớn nhất trong thế kỷ 17. Do sự thúc đẩy của tình hình kinh tế sa sút ở khu vực nông thôn mà về mặt động của xã hội đã hình thành nên nhiều thành phố ở hạ lưu khu vực sông [[Dương Tử|Trường Giang]]. Nông dân nhập cư đến thành phố chuyển sang thành thợ thủ công, người buôn bán bán các hàng hóa được sản xuất từ các xưởng thợ thủ công nhỏ trong các của hàng nhỏ của họ. Nhiều người từ khu vực nông thôn cũng được tuyển làm trong các xưởng cả của tư nhân và nhà nước sản xuất giấy, sành sứ, sợi bông và sợi tơ tằm, hay trong các đồn điền trồng và sơ chế chè vàng, mía đường và thuốc lá (được đưa đến từ [[châu Mỹ]] ). Những tiến bộ kỹ thuật như máy quay sợi và các công cụ nông nghiệp đã hỗ trợ sự bắt đầu của công nghiệp hóa trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Trung quốc. Nhưng cũng chính sự phát triển này đã dẫn đến sự ra đời của tầng lớp cho vay giầu có cũng như tầng lớp làm thuê ở thành thị.
 
 
== Khám phá và cô lập ==
<!-- Unsourced image removed: [[Hình:Ming_1433_AD.jpg|nhỏ|300px|phải|Nhà Minh (màu vàng) và các nước lân cận, 1433]] -->
[[Tập tin:MingLacquerTable1.jpg|nhỏ|300px|Đây là mảnh duy nhất còn lại trên thế giới của một đồ vật [[sơn mài]] lớn được chế tạo tại "Xưởng sơn mài Hoàng gia" tại [[Bắc Kinh]] ở đầu thời nhà Minh. Với trang trí [[rồng]] và [[phượng hoàng|phượng]], nó được chế tạo để sử dụng trong hoàng cung. Có lẽ ở khoảng thời [[Minh Tuyên Tông]] ([[1426]]-[[1435]]). Hiện được trưng bày tại [[Bảo tàng Victoria và Albert]] ở [[Luân Đôn]].<br /><p align="center">(''' [[media:MingLacquerTable2.jpg|Xem bản lớn]] ''')</p>]]
Người Trung Quốc đã có được ảnh hưởng trên toàn vùng [[Turkestan]]. Các quốc gia [[châu Á]] ven biển đã gửi các phái bộ mang theo đồ [[nộp cống]] tới Hoàng đế Trung Quốc. Bên trong nước, [[Đại Vận Hà]] được mở rộng ra đến giới hạn xa nhất chứng minh tác dụng kích thích của nó đối với thương mại.
Tuy nhiên, cuộc thám hiểm đáng ngạc nhiên nhất thời kỳ này là chuyến ra khơi trên 317 chiếc tàu thủy của [[Trịnh Hoà]], đi ngang qua [[Ấn Độ Dương]] và các quần đảo tại [[Đông Nam Á]]. Là một [[hoạn quan]] [[Hồi giáo]] đầy tham vọng, một nhân vật tài trí không xuất thân từ tầng lớp trí thức Khổng giáo, Trịnh Hòa đã chỉ huy bảy chuyến thám hiểm từ năm [[1405]] tới [[1433]], sáu chuyến trong số đó diễn ra ở thời Vĩnh Lạc. Có lẽ ông đã đi tới tận [[Mũi Hảo Vọng]] và có thể cả [[châu Mỹ]] theo [[giả thuyết 1421]]. Chuyến đi năm [[1403]] của Trịnh Hòa với một đội ngũ
tàu biển là một thắng lợi trong việc tìm kiếm những con đường trên biển cho mục đích thúc đẩy thương mại, chứ không phải để [[chủ nghĩa trọng thương|kiếm lợi nhuận]].
Những lợi ích của các con đường thương mại và lợi ích của những con đường tôn giáo cũng gắn kết với nhau.. Cả hai đều mang lại cảm giác bất an cho tầng lớp trí thức Khổng giáo mới: Các con đường tôn giáo thúc đẩy thương mại và khám phá và những lợi ích do chúng mang lại sẽ khiến nguồn vốn của nhà nước được đầu tư vào đó chứ không phải vào những nỗ lực chống lại giới tăng lữ của giới trí thức nho giáo. Chuyến thám hiểm đầu tiên năm [[1405]] gồm 317 chiếc thuyền và 28.000 người --thời ấy là hạm đội thám hiểm lớn nhất trên thế giới. Những chiếc tàu nhiều lớp boong của Trịnh Hòa chở tới 500 quân và cả hàng hóa xuất khẩu, đa số là hàng [[tơ]] và đồ [[sứ]], và chở về nước những đồ xa xỉ nước ngoài như [[gia vị]] và các loại gỗ nhiệt đới.
Động cơ kinh tế của những chuyến thám hiểm vĩ đại này có thể chiếm phần quan trọng, và nhiều chiếc tàu có những cabin riêng lớn dành cho các thương gia. Nhưng mục đích tối cao có lẽ vẫn là chính trị; nhằm khám phá thêm các quốc gia khác và đưa họ vào [[danh sách chư hầu nộp cống cho Trung Quốc]] cũng như đánh dấu sự thống trị của [[Đế quốc Trung Hoa]]. Tính chất chính trị của những cuộc thám hiểm của Trịnh Hòa cho thấy ảnh hưởng to lớn của tầng lớp quan lại cấp cao. Dù có sức mạnh to lớn và chưa từng có, nhưng những chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa không giống với những thám hiểm của Châu Âu diễn ra sau đó trong thế kỷ 15, chúng không được thực hiện với ý định mở rộng chủ quyền của Trung Quốc ra bên ngoài. Biểu thị sự cạnh tranh bên trong tầng lớp quan lại cao cấp, những cuộc thám hiểm đó cũng đã ngày càng trở thành những vấn đề tranh chấp chính trị. Trịnh Hòa được các hoạn quan cấp thấp trong triều ủng hộ nhưng lại bị phản đối mạnh mẽ từ phía các quan lại theo Khổng giáo. Sự phản kháng lớn tới mức trên thực tế họ đã tìm cách tịch thu bất kỳ một văn bản sử nào của triều đình có ghi chép về các chuyến viễn du đó. Và cũng phải công nhận rằng, những cuộc tấn công của người [[Mông Cổ]] diễn ra đã khiến cán cân nghiêng về phía các quan lại Khổng giáo.
[[Tập tin:Ceramic planter from the Ming Dynasty.jpg|nhỏ|phải|300px|Chậu hoa thời nhà Minh này là một ví dụ về [đồ gốm] [[men ngọc Long Tuyền]] (龙泉青瓷). Nó được trưng bày tại [[Viện Smithsonian]] ở Washington, D.C.]]
Tới cuối thế kỷ 15, các thần dân của đế quốc bị cấm chế tạo các con thuyền có thể đi biển hay rời khỏi đất nước. Một số nhà sử học cho rằng biện pháp này được đưa ra để chống lại [[cướp biển]]. Nhưng ở giai đoạn giữa thế kỷ 16, thương mại đã được tái khởi động lại khi bạc thay thế vị trí tiền giấy. Giá trị của bạc tăng lên nhanh chóng so với các loại hàng hóa khác trên toàn thế giới, và cả thương mại và lạm phát đều tăng lên khi Trung Quốc bắt đầu nhập khẩu bạc.
Các nhà sử học ở thế kỷ 17 như [[John Fairbank III]] và [[Joseph Levinson]] đã cho rằng sự phát triển thương mại này một lần nữa lại rơi vào tình trạng đình trệ, và rằng khoa học và triết học bị hạn chế trong những khuôn khổ truyền thống chặt chẽ ngăn chặn mọi nỗ lực phát kiến cái mời. Các nhà sử học tán thành giả thuyết này cho rằng trong thế kỷ 15, theo nghị định của triều đình các tàu đi biển loại lớn đã bị giải giới; việc chế tạo các tàu đi biển cũng bị ngăn cấm; công nghiệp [[sắt]] dần tàn lụi.
 
==Cách mạng nông nghiệp==
 
Các nhà sử học coi [[Chu Nguyên Chương]] là một vị vua tàn nhẫn nhưng đầy tài năng. Từ khi bắt đầu lên ngôi, ông dành rất nhiều sự quan tâm tới việc phân phối đất đai tới những người [[nông dân độc lập]]. Các chính sách của ông có vẻ khá chú ý tới những người nghèo khổ, và ông muốn giúp những người nghèo đó cũng như gia đình họ. Ví dụ, năm 1370 một chiếu chỉ quy định rằng một số vùng đất ở [[tỉnh Hồ Nam]] và [[tỉnh An Huy]] sẽ được phân chia cho những nông dân trẻ bắt đầu tới tuổi thành niên. Để ngăn ngừa ý định tước đoạt hay mua lại những mảnh đất đó của các địa chủ, triều đình đồng thời thông báo việc sang nhượng chúng là không được chấp nhận. Tới khoảng giữa thời Hồng Vũ, một chỉ dụ được đưa ra tuyên bố rằng những người đang canh tác tại các khu đất hoang được quyền sở hữu chúng và sẽ được miễn thuế hoàn toàn. Chỉ dụ này rất được lòng dân. Năm 1393, số lượng đất canh tác tăng lên tới 8.804.623 ching (?) và 68 mẫu (?), một kỷ lục chưa từng đạt tới ở các triều đại trước đó.
 
Một trong những nhân tố quan trọng nhất trong việc phát triển nông nghiệp là tích trữ nước. Chu Nguyên Chương rất chú trọng tới tưới tiêu nông nghiệp trên khắp đất nước, và vào năm 1394 một số [[cống sĩ]] (sinh viên) từ [[Quốc tử giám]] đã được cử tới tất cả các tỉnh nhằm phát triển các hệ thống tưới tiêu. 40.987 hồ nước và mương dẫn đã được thi công.
 
Vì chính mình cũng xuất thân từ một gia đình nông dân, Chu Nguyên Chương biết rất rõ người nông dân phải chịu khổ cực như thế nào dưới ách của tầng lớp quý tộc và những kẻ giàu có. Nhiều người trong số họ, sử dụng ảnh hưởng đối với quan lại địa phương, không chỉ để xâm lấn đất đai của nông dân, mà còn đút lót cho các quan lại cấp dưới để trốn thuế và dồn gánh nặng đó lên vai nông dân. Nhằm ngăn chặn những hành vi đó, Chu Nguyên Chương đưa ra hai kế hoạch rất quan trọng là "[[Hoàng sách]]" và "[[Ngư Lân đồ sách]]", nhằm đảm bảo cả nguồn thu của chính phủ từ thuế đất và người dân đều giữ được quyền lợi của mình.
 
 
Chu Nguyên Chương tổ chức quân đội theo [[Vệ Sở]] và duy trì nó nhờ vào hệ thống quân điền. Theo đó, quân đội tự túc khả năng cung ứng cho mình bằng cách tham gia sản xuất tự túc trong các quân điền để giảm bớt chi phí cho nhà nước. Trước đó, với quân đội lên tới hơn một triệu người, Chu Nguyên Chương hiểu rất rõ những khó khăn để cung ứng đủ cho một số lượng quân sự đông đảo như vậy, và ông đã chấp nhận phương pháp kiểu [[định cư quân sự]] này. Ở thời bình, mỗi người lính được cấp 40 tới 50 mẫu đất. Những người có khả năng sẽ tự bảo đảm được nhu cầu của mình, nếu không sẽ được chính phủ cung cấp thêm. Vì thế đế chế đảm bảo có được những lực lượng mạnh mà không chất thêm gánh nặng lên người dân. [[Míng Shih]] cho rằng 70% binh sỹ đóng dọc theo biên giới lo việc trồng cấy trong khi số còn lại đảm nhiệm việc phòng thủ. Trong lãnh thổ quốc gia, chỉ 20% là cần thiết để bảo vệ các thành phố và số còn lại tự lo nuôi sống mình. Vì thế một triệu binh lính nhà Minh có khả năng sản xuất ra năm triệu tạ (picul) lương thực, không chỉ đủ cung cấp cho số lượng binh sĩ đông đảo đó mà còn đủ trả lương cho các sĩ quan.
 
Với một ác cảm đối với thương mại tương tự các nhà nho [[Khổng giáo]], Chu Nguyên Chương cũng ủng hộ việc thành lập các [[cộng đồng nông nghiệp tự túc]]. Những [[địa chủ phong kiến]] mới nổi cuối thời [[nhà Tống]] và nhà Nguyên bị tịch thu tài sản ở thời nhà Minh. Một lượng lớn đất đai bị chính phủ sung công, chia lẻ và cho thuê; [[nô lệ]] tư nhân bị cấm. Vì vậy sau khi Hoàng đế [[Vĩnh Lạc]] chết, các nông dân có sở hữu đất chiếm số đông trong nông nghiệp Trung Quốc.
 
==Cách mạng thương mại==
Thành kiến của Chu Nguyên Chương đối với tầng lớp thương nhân không hạn chế được số lượng các thương gia. Trái lại, thương mại đạt tới tỷ lệ lớn hơn so với các thế kỷ trước đó và tiếp tục phát triển, bởi vì các nền công nghiệp đang trên đà lớn mạnh cần tới sự hợp tác của các thương gia. Tại một số tỉnh, đất đai bạc màu và dân cư quá đông đúc là những lực đẩy lớn buộc dân chúng phải tham gia vào thị trường trao đổi hàng hoá. Một cuốn sách, "[[Từ điển tân thư]]" (?)("Tu pien hsin shu"), đã miêu tả chi tiết về những hoạt động của các thương gia thời kỳ đó. Cuối cùng, [[chính sách của Chu Nguyên Chương nhằm ngăn cấm thương mại]] chỉ còn tác dụng gây trở ngại tới việc đánh thuế các thương gia của chính phủ. Chu Nguyên Chương thực tế đã tiến hành hạn chế thương mại và các thương gia đối với các mặt hàng nhu yếu phẩm như muối. Ví dụ, chính phủ giao kèo với các nhà buôn về việc vận chuyển lương thực tới biên giới. Đổi lại, chính phủ cấp các phiếu muối cho các nhà buôn, và họ có thể bán lại số muối đó cho nhân dân. Những giao kèo như vậy mang lại các khoản lợi lớn cho giới thương gia.
 
Thương mại tư nhân tiếp tục hoạt động bí mật bởi vì cảnh sát và chính phủ không thể kiểm soát toàn bộ bờ biển, và bởi vì các quan chức và các gia đình học giả địa phương tại các tỉnh ven biển trên thực tế hợp tác với các nhà buôn để chế tạo tàu thuyền phục vụ thương mại. Buôn lậu diễn ra chủ yếu với [[Nhật Bản]] và các nước [[Đông Nam Á]], và nó càng tăng lên khi các mỏ bạc được tìm thấy ở Nhật Bản vào những năm đầu thế kỷ 16. Bởi vì bạc là hình thức tiền tệ chính ở Trung Quốc, đa số dân đều sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm để đi thuyền đến Nhật hay Đông Nam Á nhằm bán hàng hóa để đổi lấy bạc hay mời các nhà buôn Nhật Bản tới bờ biển Trung Quốc để buôn bán tại các [[cảng bí mật]]. Những nỗ lực của nhà Minh nhằm chấm dứt tình trạng 'cướp biển' đó là nguyên nhân dẫn tới những cuộc chiến tranh [[Nụy khấu]] (倭寇, wokou, [[giặc Nhật]]) trong những năm 1550 và 1560. Sau khi [[thương mại tư nhân với Đông Nam Á]] được tái cho phép năm 1567, thị trường đen không còn tồn tại nữa. [[Thương mại với Nhật Bản]] vẫn bị ngăn cấm, nhưng các nhà buôn có thể đơn giản vượt qua nó bằng cách buôn bán thông qua Đông Nam Á. Tương tự, bạc từ những nhà buôn [[Tây Ban Nha]], [[Pêru]] cũng tham gia vào thị trường với số lượng rất lớn, và không hề có một sự hạn chế nào với việc đó ở Manila. Số lượng bạc to lớn chảy vào Trung Quốc giúp [[tiền tệ hóa nền kinh tế]] (thay thế sự trao đổi bằng tiền mặt), và càng thúc đẩy thêm sự phát triển thương mại.
Các nhà sử học còn tranh cãi về sự "tiến bộ" khá chậm chạp của [[chủ nghĩa trọng thương]] và [[công nghiệp hoá]] theo kiểu Châu Âu từ thời nhà Minh. Vấn đề này đặc biệt đáng quan tâm, nếu ta thấy sự tương đương giữa mức độ [[thương mại hóa của kinh tế nhà Minh]], ở thời được gọi là "tư bản phôi thai" ở Trung Quốc, với chủ nghĩa tư bản thương nghiệp ở phương Tây. Vì thế, các nhà sử học đã tìm cách giải thích tại sao Trung Quốc không "tiến bộ" ở mức tương đương trong thế kỷ cuối cùng của nhà Minh. Tuy nhiên, ở thời điểm đầu thế kỷ 21, một số giả thuyết dẫn tới cuộc tranh luận đã bị phản bác. Các nhà sử học kinh tế như [[Kenneth Pomeranz]] đã bắt đầu đưa ra lý lẽ cho rằng về mặt [[kỹ thuật và kinh tế Trung Quốc]] tương đương với Châu Âu cho tới tận năm 1750 và rằng sự khác biệt xảy ra là vì những nguyên nhân toàn cầu như khả năng tiếp cận tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ thế giới mới.
Dù sao, đa số tranh luận tập trung vào sự đối nghịch về chính trị và các [[hệ thống kinh tế]] giữa Đông và Tây. Cho rằng giả thuyết gây ra điều đó là những sự chuyển đổi kinh tế, gồm cả những thay đổi xã hội, và chúng lại dẫn tới những hậu quả về chính trị, thì ta có thể hiểu tại sao sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản, một hệ thống kinh tế trong đó vốn được đưa vào sản xuất để tạo ra nhiều vốn hơn, là một cái gì đó tương tự lực đẩy tạo nên sự trỗi dậy của Châu Âu hiện đại. Dù thế nào chăng nữa, ta có thể tìm thấy những dấu vết [[Chủ nghĩa tư bản]] ở nhiều giai đoạn khác nhau trong lịch sử phương Tây. Chủ nghĩa tư bản thương mại là giai đoạn đầu tiên và rõ ràng liên kết với các khuynh hướng lịch sử ở Trung Quốc thời nhà Minh, như các khám phá địa lý, thuộc địa hoá, phát minh khoa học, và sự tăng trưởng trong thương mại giữa các nước. Nhưng ở châu Âu, các chính phủ thường bảo vệ và khuyến khích tầng lớp giàu có tư bản, đa phần là thương nhân, thông qua các chính sách nhà nước, các khoản trợ cấp, và những điều khoản độc quyền như [[Công ty Đông Ấn Anh]]. Các nước theo [[chế độ quân chủ chuyên chế]] ở thời kỳ này thường coi những khoản lợi nhuận tiềm năng mà các nhà buôn thu được là nhân tố hỗ trợ cho sự mở rộng và tập trung hóa quốc gia của họ.
Vấn đề này thậm chí còn bất thường hơn nếu ta cho rằng trong thế kỷ cuối cùng của nhà Minh, một nền kinh tế tiền tệ đích thực đã xuất hiện cùng với những thương vụ ở mức độ lớn cũng như những cơ sở công nghiệp tư nhân và nhà nước, ví dụ như những trung tâm dệt may lớn ở phía đông nam. Ở một số khía cạnh, vấn đề này là trung tâm trong những cuộc tranh luận về sự suy tàn của Trung Quốc so với phương Tây hiện đại ít nhất cho đến thời Cách mạng vô sản. Các nhà [[sử học Mác xít]] Trung Quốc, đặc biệt ở thập niên 1970 coi thời nhà Minh là một trong những giai đoạn "tư bản sơ khai", một sự miêu tả có vẻ khá chính xác, nhưng không giải thích được sự suy tàn của thương mại và sự tăng cường các biện pháp quản lý thắt chặt thương mại ở thời nhà Minh. Vì vậy, các nhà sử học Mác xít mặc nhiên cho rằng chủ nghĩa trọng thương kiểu Châu Âu và công nghiệp hóa có thể đã phát triển và nó không liên quan gì tới [[cuộc chinh phục của người Mãn Châu]], sự mở rộng chủ nghĩa thực dân Châu Âu, đặc biệt sau thời của các cuộc [[Chiến tranh nha phiến]].
Tuy nhiên các học giả hậu hiện đại ở Trung Quốc đã cho rằng quan điểm này là quá đơn giản hóa và ít nhất cũng không chính xác. Việc ngăn cấm các tàu đi biển, như được chỉ ra, là với ý định kìm chế cướp biển và đã được dỡ bỏ ở giữa thời Minh dưới sức ép mạnh mẽ của tầng lớp quan lại, những người đã chỉ ra những ảnh hưởng xấu của nó tới các vùng kinh tế ven biển. Các nhà sử học đó, gồm [[Jonathan Spence]], [[Kenneth Pomeranz]], và [[Joanna Waley-Cohen]] phủ nhận việc Trung Quốc đã hoàn toàn "đóng cửa với bên ngoài" và cho rằng quan điểm đó về nhà Minh là mâu thuẫn với khối lượng tăng trưởng của [[thương mại và mậu dịch giữa Trung Quốc và Đông Nam Á]]. Khi [[người Bồ Đào Nha]] tới [[Ấn Độ]], họ chứng kiến một mạng lưới thương mại đang phát triển mạnh mẽ và sau đó họ đã theo nó để tới Trung Quốc.
 
[[Thể loại:Nhà Minh]]
Người dùng vô danh