Khác biệt giữa các bản “Albert Einstein”

n
Đã huỷ sửa đổi của 125.234.147.27 (thảo luận | cấm), quay về phiên bản của Newone.
n (Đã huỷ sửa đổi của 125.234.147.27 (thảo luận | cấm), quay về phiên bản của Newone.)
[[Hình:Albert Einstein Head.jpg|nhỏ|phải|250px|Hình của Albert Einstein chụp bởi Oren Jack Turner năm [[1947]]]]
'''Einstein là nhà bác học ĐIÊN nhất mọi thời đại'''
{{Người đoạt giải Nobel|tên=Einstein, Albert}}
'''Albert Einstein''' ([[14 tháng 3]] năm [[1879]] – [[18 tháng 4]] năm [[1955]]) là [[nhà vật lý]] người [[Hoa Kỳ|Mỹ]] gốc [[Đức]] – [[Do Thái]]. Ông nổi tiếng với tư cách là ''cha đẻ'' của [[thuyết tương đối]]. Ngoài thuyết tương đối, ông cũng có các đóng góp lớn cho việc xây dựng [[cơ học lượng tử]] và [[cơ học thống kê]].
 
==Sự nghiệp khoa học==
Ông là người đã công bố vào năm [[1905]] ba bài viết gây nên ảnh hưởng có tính cách mạng đến sự phát triển của [[vật lý]] hiện đại.
 
Trong bài viết thứ nhất, ông đã đề xuất [[thuyết tương đối hẹp]] mô tả chính xác hơn các hạt [[vật chất]] chuyển động với [[vận tốc]] cao. [[Tiên đề]] cơ bản của [[thuyết tương đối hẹp]] là [[vận tốc ánh sáng]] cũng như mọi [[định luật vật lý]] là như nhau trong mọi [[hệ quy chiếu quán tính]]. Einstein biết rõ về kết quả [[thí nghiệm Michelson-Morley|thí nghiệm âm tính của Michelson-Morley]], nhưng chưa quen biết với công trình của [[Hendrik Lorentz]] sau năm [[1895]], nên ông đã tự sáng tạo ra [[biến đổi Lorentz]] cho mình (Pais 1982, p. 133).
 
Thuyết tương đối hẹp đòi hỏi nhiều sự thay đổi đối với các [[định luật vật lý|định luật]] [[cơ học]], tuy nhiên các [[phương trình Maxwell|phương trình điện từ]] của [[James Clerk Maxwell]] được phát hiện là thoả mãn hoàn toàn thuyết này mà không cần sự thay đổi gì. Sử dụng thuyết tương đối hẹp, Einstein đã tìm ra được sự tương đương giữa [[khối lượng nghỉ]] <i>m</i><sub>0</sub> và [[năng lượng]] ''E'' của [[vật chất]], mô tả bởi ''E''<sup>2</sup>-''p''<sup>2</sup>''c''<sup>2</sup>=''m''<sub>0</sub><sup>2</sup>''c''<sup>4</sup>, với ''c'' là vận tốc ánh sáng và ''p'' là [[động lượng]] ([[tương đối tính]]). Khi [[khối lượng]] tổng cộng (tương đối tính) ''m''=''γm''<sub>0</sub> được dùng (ở đây ''γ''=(1-(''v''/''c'')<sup>2</sup>)<sup>½</sup>), phương trình đơn giản hoá thành phương trình nổi tiếng ''E''=''mc''<sup>2</sup>.
 
[[Hình:Relativity5 Walk of Ideas Berlin.JPG|nhỏ|trái|250px|Công thức nổi tiếng tại Berlin]]
 
Trong bài viết thứ hai, cùng xuất bản vào năm [[1905]], Einstein đã giải thích được [[hiệu ứng quang điện]] bằng cách giả thiết rằng [[ánh sáng]] là các hạt [[chuyển động]] (gọi là [[photon]]) với [[năng lượng]] ''E''=''hν'', ở đây ''h'' là [[hằng số Planck]] (gọi tên theo [[nhà vật lý]] [[Max Planck]]) và ''ν'' là tần số của hạt photon. Đây là một mở rộng của [[lý thuyết]] [[lượng tử]] [[ánh sáng]] của Planck. Phương trình mà Einstein tiên đoán từ [[lý thuyết]] này đã được kiểm chứng bằng [[thí nghiệm]] của [[Robert Millikan]] vào năm [[1916]].
{{TOCright}}
Cũng vào năm 1905 ấy, trong bài viết thứ ba, Einstein đã giải thích [[chuyển động Brown]] bằng [[lý thuyết]] [[động học]], với lập luận cơ bản là [[chuyển động]] của các [[hạt Brown]] là do sự va đập [[hỗn loạn]] của các [[phân tử]]. Einstein đã tiếp tục phát triển lý thuyết này đến một phương trình cho thấy các hạt lơ lửng trong không trung trên mặt đất sẽ dần dần tự sắp xếp theo mật độ giảm dần theo [[hàm mũ tự nhiên]] từ thấp lên cao. Sử dụng phương trình của Einstein cho chuyển động Brown và [[phân bố]] của các hạt, [[Jean Perrin]] đã đo được [[hằng số Boltzmann]] bằng thí nghiệm.
 
Einstein sau đó tiếp tục phát triển [[thuyết tương đối rộng]], dựa trên [[tiên đề]] là gia tốc đều tương đương với trọng trường hấp dẫn. Tiên đề này thường được biết đến với tên gọi nguyên lý tương đương của [[trọng trường]]. Nó mô tả trọng trường như là độ cong của không thời gian. Lý thuyết tương đối rộng sử dụng rất nhiều tính toán [[tensor]] [[Ricci-Curbastro]]. Einstein cũng đã nghiên cứu mô hình [[vũ trụ]], và thấy là lý thuyết tương đối rộng không thỏa mãn điều kiện [[đồng nhất]], [[đẳng hướng]] và [[cân bằng]] của vũ trụ, trừ phi thêm vào lý thuyết này một [[hằng số vật lý|hằng số]] gọi là [[hằng số vũ trụ]].
 
Trong phần lớn cuộc đời còn lại của mình, Einstein đã có những cố gắng không thành công trong việc tạo ra một [[lý thuyết thống nhất]] có thể mô tả tất cả mọi loại [[lực]] của tự nhiên như là các dạng khác nhau của một lực cơ bản nhất. Các lý thuyết của Einstein thường gây nhiều tranh cãi, ngay cả rất nhiều năm sau khi ông công bố chúng. Trong một bản tiến cử Einstein vào [[Viện Hàn lâm Khoa học Đức]], người ta đã viết "Tóm lại, ta có thể nói là hầu như không có một vấn đề lớn nào của vật lý hiện đại mà Einstein không thực hiện những đóng góp quan trọng. Một vài dự đoán nhầm của ông, ví dụ như giả thuyết về các hạt ánh sáng, cũng không thể đem ra để phản bác lại ông được, vì rằng sẽ không thể đưa ra những ý tưởng mới, ngay cả với những môn khoa học chính xác nhất, mà không thỉnh thoảng sẵn sàng đương đầu với may rủi" (Pais 1982, p. 382).
 
Một nghiên cứu gần đây về [[bộ não]] của Einstein, đã được bảo quản cho đến nay (chi tiết có thể xem Regis 1991), người ta thấy khu vực bên trong của não, phần liên quan đến tư duy [[toán học]], rộng hơn bình thường đến 15% (Witelson và các tác giả khác 1999). Ngoài ra, các đường viền não, bình thường chạy từ sau ra trước, không phát triển đối với não của Einstein. Tuy nhiên, chưa thể khẳng định được sự ảnh hưởng của các yếu tố [[sinh lý]] bất thường này đến sự sáng tạo [[khoa học]] của Einstein.
 
==Tóm tắt đời tư==
[[Hình:Einstongue.jpg|nhỏ|200px|Bức ảnh Einstein thè lưỡi nổi tiếng chụp vào ngày sinh nhật, ngày [[14 tháng 3]] năm [[1951]], [[United Press International]]]]
 
Einstein sinh ngày [[14 tháng 3]] năm [[1879]] tại thị trấn nhỏ Ulm bên dòng [[sông Danube]] thuộc bang [[Baden-Württemberg]] của [[Đức]]. Einstein bỏ quốc tịch Đức năm [[1896]] và nhận quốc tịch [[Thụy Sĩ]] năm [[1901]]. Sau khi tốt nghiệp trường Eidgenössische Technische Hochschule (một trường đại học [[kỹ thuật]]) năm [[1900]] ở [[Zurich]], Thụy Sĩ, ông dạy toán tại một trường đại học kỹ thuật khác ở Winterthur, rồi từ [[1902]] đến [[1908]], bắt đầu làm việc cho văn phòng cấp bằng sáng chế kỹ thuật tại [[Bern]], với chức vụ giám định viên kỹ thuật hạng III. Đây chính là thời gian Einstein có những phát kiến quan trọng trong [[vật lý lý thuyết]], và cũng là nền tảng cho sự nghiệp của ông sau này, hoàn toàn làm ngoài giờ và không có nhiều liên hệ trực tiếp với đồng nghiệp và tài liệu khoa học.
 
Einstein nhận bằng [[tiến sĩ]] từ [[Đại học Zurich]] năm [[1905]] và cùng năm này xuất bản 3 công trình khoa học trong đó có [[thuyết tương đối hẹp]]. Sau khi phát kiến ra [[nguyên lý tương đương]] của [[trọng trường]] năm [[1907]], Einstein trở thành giảng viên tại [[Đại học Bern]] năm [[1908]], rồi thành giáo sư vật lý tại Đại học Zurich năm [[1909]] và bắt đầu được biết đến là một [[nhà khoa học]] hàng đầu. [[1911]], trong khi chuyển đến giảng tại [[Đại học Karl-Ferdinand]] ở [[Praha]] (thủ đô của [[Tiệp Khắc]] lúc đó), ông đưa ra tiên đoán đầu tiên của [[thuyết tương đối rộng]] là [[ánh sáng]] phải đi theo đường cong khi qua gần [[Mặt Trời]]. Một năm sau đó trở lại Zurich tiếp tục phát triển lý thuyết về [[trọng trường]] bằng tính toán [[tensor]], với sự giúp đỡ của bạn học và cũng là [[nhà toán học]] [[Marcel Grossmann]]. Năm [[1914]] ông quay lại Đức, trở thành thành viên của [[Viện Hàn lâm Khoa học Đức]]. Năm [[1915]], lần đầu thuyết tương đối rộng được xuất bản. Năm [[1919]], đo đạc với [[ánh sáng]] mặt trời khi có [[nhật thực]] của một đoàn chuyên gia người Anh đã khẳng định tiên đoán của Einstein vào năm [[1911]].
 
Einstein nhanh chóng trở nên rất nổi tiếng trên thế giới, còn ở [[Đức]] ông lại bị một số phần tử [[bài Do Thái]] tấn công. Từ năm [[1920]] đến năm [[1927]], ông đi khắp thế giới để thuyết trình và hoạt động xã hội ([[1921]] [[Mỹ]], [[1922]] [[Pháp]] và [[Nhật]], [[1923]] [[Palestine]], rồi [[1924]] [[Nam Mỹ]]). Năm [[1921]] cũng là năm Einstein được nhận [[Những người đoạt giải Nobel Vật lý|giải thưởng Nobel về vật lý]], không phải cho công trình nổi tiếng nhưng vẫn còn gây tranh cãi vào thời điểm này là [[lý thuyết tương đối]], mà cho những giải thích về [[hiệu ứng quang điện]]. Bắt đầu từ năm [[1927]], Einstein tham gia vào một cuộc tranh luận với [[Niels Bohr]] về thuyết lượng tử. Ông làm việc quá sức và lâm bệnh năm [[1928]]. Mặc dù bình phục ngay trong năm này, cường độ làm việc của ông buộc phải giãn hơn trước. Năm [[1932]], Einstein nhận giảng tại [[Đại học Princeton]], tại [[Mỹ]], và không quay trở lại nữa vì chính quyền chống Do Thái [[Đức quốc xã]] đã cầm quyền ở Đức. Năm [[1933]], ông tiếp tục chu du [[Oxford]], [[Glasgow]], [[Brussels]], [[Zurich]] và nhận được những vị trí danh dự mà ông đã từng mơ ước vào năm [[1901]] từ [[Jerusalem]], [[Leiden]], [[Oxford]], [[Madrid]] và [[Paris]]. Năm [[1935]] Einstein quyết định ở lại Princeton thực hiện những cố gắng trong việc thống nhất các định luật của vật lý. Năm [[1940]] ông nhận quốc tịch Mỹ, và vẫn giữ quốc tịch Thụy Sĩ.
 
Einstein là một người phản đối chiến tranh và đã gây được 6 triệu đô la tiền quỹ bằng việc bán đấu giá bản viết tay về [[thuyết tương đối hẹp]] của mình vào năm [[1944]]. Ông bắt đầu lâm bệnh từ năm [[1949]] và viết di chúc năm [[1950]]. Năm [[1952]], chính phủ [[Israel]] mời Einstein nhận chức tổng thống, nhưng ông từ chối. Một tuần trước khi mất, Einstein ký tên vào một bức thư kêu gọi các nước không xây dựng [[vũ khí hạt nhân]]. Ông mất tại [[Trenton, New Jersey]], 4 giờ chiều ngày [[18 tháng 4]] năm [[1955]].
 
==Các câu nói nổi tiếng==
[[Hình:Max-Planck-und-Albert-Einstein.jpg|nhỏ|[[Max Planck]] và Albert Einstein]]
Do có gốc gác Do Thái, Einstein đã bị công kích bởi một số người bài Do Thái. Khi một truyền đơn được phân phát dưới tiêu đề ''100 tác giả chống lại Einstein'', Einstein đã viết "Nếu tôi thực sự sai, chỉ cần một người chống lại là đủ". Một số câu nói nổi tiếng về [[Chúa]] của Einstein được liệt kê dưới đây:
 
*"Bất cứ ai cho mình quyền phán xét thế nào là Sự thật và Tri thức đều trở thành hề đối với Chúa."
*"Tôi muốn biết Chúa đã sinh ra thế giới như thế nào. Tôi không quan tâm đến hiện tượng cụ thể này nọ, trong bối cảnh nọ kia. Tôi muốn biết Chúa đã nghĩ như thế nào, tất cả phần còn lại chỉ là chi tiết."
*"Chúa rất khó hiểu, nhưng không ma mãnh."
*"Chúa không chơi trò may rủi với thế giới này." (''God does not play dice with the Universe.'')
*"Khoa học mà thiếu tôn giáo thì khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng" (''Science without religion is lame. Religion without science is blind.'')
 
Einstein cũng đã có nhiều câu nói sâu sắc về khám phá [[khoa học]]:
*"Sự sáng tạo không phải là sản phẩm của suy luận lô-gic, dù rằng sản phẩm cuối cùng gắn liền với một cấu trúc lô-gic."
*"Tự nhiên chỉ cho chúng ta thấy cái đuôi của con sư tử. Nhưng tôi không nghi ngờ rằng con sư tử là chủ nhân của cái đuôi ấy dù nó không thể xuất đầu lộ diện với tầm vóc khổng lồ của nó." (Pais 1982, p. 235)
*"Từ trên cao, Tự nhiên mỉm cười nhìn xuống, người đã trao cho chúng ta một lòng khao khát khám phá, nhiều hơn là khả năng trí tuệ để làm việc ấy."
*"Đừng lo lắng về khó khăn của bạn trong toán học, tôi đảm bảo với bạn rằng những khó khăn toán học của tôi còn gấp bội."
*Khi được đề cử làm [[tổng thống]] [[Israel]], ông từ chối với lý do là ngây thơ về [[chính trị]], nhưng thật ra, đối với ông: ''"Phương trình quan trọng hơn đối với tôi, vì chính trị là cho hiện tại, còn phương trình là cho vĩnh cửu"'' [http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn1n1n2n31n343tq83a3q3m3237nvnnn&cochu= Lược sử thời gian].
 
Khi con ông hỏi vì sao ông nổi tiếng, Einstein đã giải thích công lao của ông một cách dễ hiểu và khiêm tốn:
*"Khi con bọ dừa bò theo một cành cây nó không nhận thấy là cành cây bị cong. Cha đã có may mắn nhận thấy cái mà con bọ dừa không nhận thấy con ạ."
 
Khi được hỏi về cách làm cho ông được thành công, ông đã nói:
*"Suy nghĩ, suy nghĩ đi, suy nghĩ mãi"
*"Nếu như tưởng tượng rằng những gì chúng ta biết là một hình tròn thì những gì ngoài vòng tròn đó thật lớn biết bao."
 
==Xem thêm==
[[Hình:The gioi nhu toi thay.jpg|khung|phải|''Thế giới như tôi thấy'']]
 
*Các [[nhà vật lý]]
*[[Thuyết tương đối hẹp]]
*[[Thuyết tương đối rộng]]
 
==Tham khảo==
*Pais, A., ''Subtle Is the Lord: The Science and the Life of Albert Einstein''. New York: Oxford University Press, 1982. ISBN 0195204387
*Regis, E., ''Who Got Einstein's Office?: Eccentricity and Genius at the Institute for Advanced Study''. Reading, MA: Addison-Wesley, 1991. ISBN 0201122782
*Whitelson, S. F., Kigar, D. L. and Harvey T., ''The exceptional brain of Albert Einstein'', The Lancet, Vol. 353 (9170), p. 2149, 1999
 
==Đọc thêm==
*Albert Einstein, ''Thế giới như tôi thấy''. NXB Tri Thức 2005
 
==Liên kết ngoài==
{{commons|Albert Einstein}}
* [http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hien-Huu/Einstein-cuoc_doi_va_su_nghiep/ Albert Einstein-Cuộc đời và sự nghiệp]
* [http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2006/07/3B9EBCC6/ Lá thư mới tiết lộ cuộc sống tình cảm của Einstein]
* [http://docbao.dec.vn/viewer.aspx?nid=9362f038e049488b8e2c1e5c2409e848 Những cuộc tình tương đối của Einstein]
{{Sao chọn lọc}}
{{Dữ liệu nhân vật
|TÊN=Einstein, Albert
|TÊN KHÁC=
|TÓM TẮT=[[nhà vật lý]] người [[Hoa Kỳ|Mỹ]] gốc [[Đức]]&nbsp;– [[Do Thái]]
|LÚC SINH=[[14 tháng 3]], [[1879]]
|NƠI SINH=[[Ulm]], [[Baden-Württemberg]], [[Đế quốc Đức]]
|LÚC MẤT=[[18 tháng 4]], [[1955]]
|NƠI MẤT=[[Princeton, New Jersey|Princeton]], [[New Jersey]], [[Hoa Kỳ]]
}}
[[Thể loại:Albert Einstein| ]]
[[Thể loại:Người đoạt giải Nobel Vật lý|Einstein, Albert]]
[[Thể loại:Nhà vật lý Đức|Einstein, Albert]]
[[Thể loại:Nhà vật lý Thụy Sĩ|Einstein, Albert]]
[[Thể loại:Nhà vật lý Mỹ|Einstein, Albert]]
[[Thể loại:Nhà vật lý Do Thái|Einstein, Albert]]
[[Thể loại:Dự án Manhattan|Einstein, Albert]]
[[Thể loại:Người theo chủ nghĩa xã hội|Einstein, Albert]]
{{Thời gian sống|sinh=1879|mất=1955|tên=Einstein, Albert}}
 
{{Liên kết chọn lọc|de}}
{{Liên kết chọn lọc|en}}
{{Liên kết chọn lọc|es}}
{{Liên kết chọn lọc|he}}
{{Liên kết chọn lọc|lv}}
{{Liên kết chọn lọc|pt}}
 
[[ksh:Albert Einstein]]
[[zh-yue:愛因斯坦]]
 
[[af:Albert Einstein]]
[[als:Albert Einstein]]
[[ar:ألبرت آينشتاين]]
[[an:Albert Einstein]]
[[ast:Albert Einstein]]
[[az:Albert Eynşteyn]]
[[id:Albert Einstein]]
[[ms:Albert Einstein]]
[[bm:Albert Einstein]]
[[bn:আলবার্ট আইনস্টাইন]]
[[jv:Albert Einstein]]
[[be:Альбэрт Айнштайн]]
[[bs:Albert Einstein]]
[[br:Albert Einstein]]
[[bg:Алберт Айнщайн]]
[[ca:Albert Einstein]]
[[cs:Albert Einstein]]
[[da:Albert Einstein]]
[[de:Albert Einstein]]
[[et:Albert Einstein]]
[[el:Άλμπερτ Αϊνστάιν]]
[[en:Albert Einstein]]
[[es:Albert Einstein]]
[[eo:Albert Einstein]]
[[eu:Albert Einstein]]
[[fa:آلبرت اینشتین]]
[[fr:Albert Einstein]]
[[ga:Albert Einstein]]
[[gd:Albert Einstein]]
[[gl:Albert Einstein]]
[[ko:알베르트 아인슈타인]]
[[hy:Էյնշտեյն Ալբերտ]]
[[hi:अल्बर्ट आइनस्टाइन]]
[[hr:Albert Einstein]]
[[io:Albert Einstein]]
[[ia:Albert Einstein]]
[[os:Эйнштейн, Альберт]]
[[is:Albert Einstein]]
[[it:Albert Einstein]]
[[he:אלברט איינשטיין]]
[[kn:ಆಲ್ಬರ್ಟ್ ಐನ್‍ಸ್ಟೀನ್]]
[[ka:აინშტაინი, ალბერტ]]
[[ku:Albert Einstein]]
[[lad:Albert Einstein]]
[[la:Albertus Einstein]]
[[lv:Alberts Einšteins]]
[[lb:Albert Einstein]]
[[lt:Albertas Einšteinas]]
[[jbo:albert.ainctain]]
[[lmo:Albert Einstein]]
[[hu:Albert Einstein]]
[[mk:Алберт Ајнштајн]]
[[mr:अल्बर्ट आईन्स्टाईन]]
[[nl:Albert Einstein]]
[[ja:アルベルト・アインシュタイン]]
[[no:Albert Einstein]]
[[nn:Albert Einstein]]
[[oc:Albert Einstein]]
[[nds:Albert Einstein]]
[[pl:Albert Einstein]]
[[pt:Albert Einstein]]
[[ro:Albert Einstein]]
[[qu:Albert Einstein]]
[[ru:Эйнштейн, Альберт]]
[[sco:Albert Einstein]]
[[sq:Albert Einstein]]
[[scn:Albert Einstein]]
[[simple:Albert Einstein]]
[[sk:Albert Einstein]]
[[sl:Albert Einstein]]
[[sr:Алберт Ајнштајн]]
[[sh:Albert Einstein]]
[[fi:Albert Einstein]]
[[sv:Albert Einstein]]
[[tl:Albert Einstein]]
[[ta:அல்பர்ட் ஐன்ஸ்டீன்]]
[[tt:Albert Einstein]]
[[th:อัลเบิร์ต ไอน์สไตน์]]
[[tpi:Albert Einstein]]
[[tr:Albert Einstein]]
[[uk:Альберт Ейнштейн]]
[[wo:Albert Einstein]]
[[yi:אלבערט איינשטיין]]
[[zh:阿尔伯特·爱因斯坦]]
[[ilo:Albert Einstein]]
24.701

lần sửa đổi