Mở trình đơn chính

Các thay đổi

kô phải wiki VN
 
Đậu mùa gây bệnh trong các [[mạch máu]] nhỏ ở [[da]], [[miệng]] và [[cổ họng]]. Ở vùng da, bệnh gây ra những vết ban nổi sần đỏ đặc trưng, sau đó da bị phồng giộp những vết sần chứa nước. Virus ''V major'' độc hại hơn, gây tử vong trong số 30-35% bệnh nhân. ''V minor'' gây dạng bệnh nhẹ hơn, giết khoảng 1% bệnh nhân.<ref>{{chú thích tạp chí |author=Behbehani AM |title=The smallpox story: life and death of an old disease |journal=Microbiol Rev |volume=47 |issue=4 |pages=455-509 |year=1983 | url = http://www.pubmedcentral.nih.gov/articlerender.fcgi?tool=pubmed&pubmedid=6319980 |pmid=6319980}}</ref> Biến chứng lâu dài của việc nhiễm ''V major'' là các sẹo đặc trưng, thường là ở mặt, ở 65-85% số nạn nhân. Nạn nhân cũng có thể bị [[mù]] vì [[giác mạc]] bị sẹo. [[Phái nam]] còn có thể bị [[vô sinh|hiếm muộn]]. Dị hình ở các chi do chứng viêm khớp và viêm khớp xương mãn tính là biến chứng ít gặp hơn, xuất hiện ở khoảng 2-5% các trường hợp nhiễm bệnh..
 
Vết [[sẹo]] rậm trên [[da]] mặt thường là chứng tích của bệnh đậu mùa, [[tiếng Việt]] có chữ riêng để gọi: "rỗ".
 
==Lịch sử==
[[Tập tin:Smallpox vaccine.jpg|thumb|Các thành phần của một bộ vắc-xin đậu mùa hiện đại.]]
Công đoạn đầu tiên được sử dụng để ngăn chặn đậu mùa là tiêm. Tiêm có thể đã được thực hiện ở Ấn Độ vào khoảng năm 1000 TCN,<ref name=Bourzac_2002>{{chú thích tạp chí | author = Bourzac K| title = Smallpox: Historical Review of a Potential Bioterrorist Tool | journal = Journal of Young Investigators | year = 2002 | volume = 6 | issue = 3 |url= http://www.jyi.org/volumes/volume6/issue3/features/bourzac.html}}</ref> và tiêm một mũi đậu mùa bột, hoặc rắc đậu mùa lên da nơi có vết xước. Tuy nhiên, ý tưởng rằng tiêm có nguồn gốc từ Ấn Độ đã là một thách thức đối vì được miêu tả trong các văn bản y học tiếng Phạn về quá trình tiêm.<ref>Wujastyk, Dominik. (1995). "Medicine in India," in ''Oriental Medicine: An Illustrated Guide to the Asian Arts of Healing'', 19–38. Edited by Serindia Publications. London: Serindia Publications. ISBN 0-906026-36-9. p. 29.</ref> Việc tiêm chống bệnh đầu mùa ở Trung Quốc có thể được tìm thấy vào cuối thế kỷ 10, và quy trình được thực hiện rộng rãi vào thế kỷ 16 trong thời kỳ [[nhà Minh]].<ref name="Temple">Temple, Robert. (1986). ''The Genius of China: 3,000 Years of Science, Discovery, and Invention''. With a forward by Joseph Needham. New York: Simon and Schuster, Inc. ISBN 0-671-62028-2. p. 135–37.</ref> Nếu thành công, tiêm sẽ tạo ra khả năng miễn dịch với đậu mùa. Tuy nhiên, do người bị nhiễm bởi virus variola, kết quả làm nhiễm trùng nghiêm trọng, và người đó có thể truyền bệnh đậu mùa cho người khác. Tiêm chủng đậu mùa có tỷ lệ tử vong 0,5-2%, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ tử vong từ 20-30% của chính bệnh này.<ref name= PinkBook/>
 
== Đậu mùa trong lịch sử Việt Nam ==
[[Lịch sử Việt Nam]] có ghi lại một số những nhân vật chết vì bệnh đậu mùa. Trong đó có [[Nguyễn Phúc Cảnh|Hoàng tử Cảnh]], người con cả của vua [[Nguyễn Thế Tổ]] (niên hiệu [[Gia Long]]). Hoàng tử Cảnh mất năm 22 tuổi, để lại một vợ và hai con. Vua [[Tự Đức]] cũng bị bệnh đậu mùa và bị vô sinh nên nhận một người con nuôi lên làm vua và chỉ tại vị được 3 ngày, đó là vua [[Dục Đức]]
 
Sử [[nhà Nguyễn]] cũng ghi hai nạn dịch lớn trước [[thời Pháp thuộc]]:
* "Năm Canh Thìn ([[1820]]) tháng 11 ([[âm lịch]]) bệnh dịch lan tràn, khởi đầu từ [[Hà Tiên (tỉnh)|Hà Tiên]] đến [[Bắc Thành]]. Nhiều người chết. Nhà nước chẩn cấp cho dân tổng cộng 73 vạn quan tiền."
* "Năm Canh Tý ([[1840]]) tháng 9 (âm lịch) ở [[Sơn Tây]] từ [[mùa xuân]] đến [[mùa thu]] có hơn 4.900 người chết dịch."<ref>''Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam''. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1987. trang 425, 454.</ref>
 
Vết [[sẹo]] rậm trên [[da]] mặt thường là chứng tích của bệnh đậu mùa, [[tiếng Việt]] có chữ riêng để gọi: "rỗ".
 
== Chú thích ==
1

lần sửa đổi