Khác biệt giữa các bản “Flavius Aetius”

n
không có tóm lược sửa đổi
n
|năm phục vụ= 405-454
|cấp bậc= [[Magister militum]]
|đơn vị= [[LateQuân Romanđội armyLa Mã thời cuối|LụcQuân quânđội La Mã]]
|chỉ huy= Tribunis Partis Militaris <br/> Cura Palatii <br/> Magister Militum per Gallias <br/> Comes et Magister Utriusque Militiae (Juniorcấp thấp) <br/> Comes et Magister Utriusque Militiae (Seniorcấp cao) <br/> Magnificus vir Parens Patriciusque Noster <br/> [[Quan chấp chính|ConsulChấp chính quan]]
|tham chiến= [[SiegeCuộc ofvây hãm Arelate (426)]] <br/> [[FrankishChiến Wartranh ofFrank (428)]] <br/> [[Norican Campaign of 430]] <br/>[[Siege of Arelate (431)]] <br/> [[Frankish War of 432]] <br/> [[Battle of Ravenna (432)|Battle of Rimini]] <br/> [[Visigothic War of 436]] <br/> [[Burgundian Revolt of 435]] <br/> [[Battle of Narbonne (436)|Siege of Narbona (436)]] <br/> [[Sack of Worms (436)]] <br/> [[Battle of Mons Colubrarius]] <br/> [[Battle of Vicus Helena]] <br/> [[Trận Châlons]] <br/> [[Invasion of Italy (452)]] <br/> [[Spanish Campaign of 453]]
|khen thưởng=
|gia đình=
'''Flavius Aetius''', hoặc đơn giản là '''Aëtius''' (khoảng [[396]]-[[454]]), ''Quận công kiêm quý tộc'' ("[[dux]] et [[patrikios|patricius]]"), là tướng [[Đế quốc La Mã|La Mã]] vào thời kỳ cuối [[Đế quốc Tây La Mã]]. Ông theo quân đời từ sớm, từng làm con tin cho các vua "di địch" như [[Alaric I]] ([[goth|Goth]]) và [[Rugalia]] (Hung), sau làm tướng cho "kẻ soán ngôi" [[Joannes]] rồi lại theo [[Valentinianus III]].<ref name="Ermatinger7576">James William Ermatinger, ''The decline and fall of the Roman Empire'', các trang 75-76.</ref> Ông là nhà quân sự, ngoại giao và là một trong những người có thế lực nhất Tây La Mã trong suốt hai thập kỷ ([[433]]-[[454]]). Ông đã mở nhiều chiến dịch đánh các "man di" xâm phạm La Mã. Nổi bật hơn cả là trận ông thắng đội quân dữ tợn của người Hung do [[Attila]] chỉ huy: bằng đường lối đối ngoại khôn khéo, ông đã lập được liên minh với các man di ở châu Âu, họp quân đánh Attila ở [[Trận Châlons|Chalons]] năm [[451]], buộc Attila phải chạy về nước.
 
Cùng với [[thống đốc]] [[Bonifacius]] và [[Stilicho]], Aetius thường được các sử gia đời sau gọi là "người La Mã cuối cùng" với ngụ ý rằng, sau ông, La Mã không thể sản sinh được một người nào khác xứng đáng xếp cùng với các bậc anh hùng thuở xưa. Nhà sử học [[Anh]] [[Edward Gibbon]] thường nhắc đến ông là "''nhân vật được xưng tụng rộng rãi là nỗi khiếp đảm của di địch và là cột chống của nền cộng hòa''". Sau chiến thắng Châlons, ông sự nghiệp đang lên thì bị Valentinianus III [[ámđố sát]]kỵ, giết hại.
 
==Tiểu sử==
===Gia đình===
Flavius Aetius sinh tại [[Durostorum]] ở vùng [[Moesia|Hạ Moesia]] (nay là [[Silistra]], [[Bulgaria|Bungari]]) vào năm 396. Cha ông là [[Flavius Gaudentius]], một người lính [[La Mã gốc Scythia]],<ref name=Gibbon>Edward Gibbon, ''Decline and Fall of the Roman Empire'', The Modern Library, New York, volume II, p.1089.</ref><ref>[http://www.newadvent.org/cathen/01177b.htm Aëtius]. ''[[Catholic Encyclopedia]]''; ''Dictionary of Greek and Roman Biography and Mythology'', vol. 1, page 51; Tirnanog (1997).</ref> mẹ ông không rõ họ tên, xuất thân từ một gia đình quý tộc giàu có gốc [[Ý]].<ref>Jordanes, ''Getica'', 176; Merobaudes, ''Carmina'', iv, 42-43, and ''Panegyrici'', ii, 110-115, 119-120; Gregory of Tours, ii.8; Zosimus, v.36.1; ''Chronica gallica 452'', 100. Cited in Jones, p. 21.</ref> Vào năm [[425]], Aetius kết hôn với một người con gái không rõ họ tên của Carpilio,<ref>Carpilio had been a ''comes domesticorum'', commander of the imperial guard (Gregory of Tours, ii.8).</ref> hạ sinh một người con trai cũng tên là [[Carpilio]].<ref>Carpilio went to [[Attila]] for an embassy (Cassiodorus, ''Variae'', i.4.11) and remained at their court as an hostage for some time (Priscus, fr. 8).</ref> Về sau ông còn kết hôn với [[Pelagia]], góa phụ của Bonifacius, có thêm một người con trai nữa là [[Gaudentius]]. Ngoài ra ông còn có một cô con gái nữa không rõ họ tên, về sau là vợ của [[Thraustila]], người đã trả thù cho cái chết của Aetius bằng cách lập mưu [[ám sát]] Hoàng đế [[Valentinianus III]].<ref>Gregory of Tours, ii.8; Priscus, fr. 8; Cassiodorus, ''Variae'', i.4.11; John of Antioch, fr. 201.3 and 204; Marcellinus comes, s.a. 432; Sidonius Apollinaris, ''Carmina'', v.205; Hydatius, 167; Merobaudes, ''Carmina'', iv (poem composed for the first birthday of Gaudentius); ''Additamenta ad chron. Prosperi Hauniensis'', s.a. 455 (only source to cite Thraustila as son-in-law of Aëtius). Cited in Jones, p. 21.</ref>
 
===Sự nghiệp ban đầu===
[[Tập tin:Flavius Felix 00.JPG|nhỏ|Tấm bia khắc tranh bộ đôi về [[quan chấp chính]] [[Flavius Felice]] vào năm [[428]], một trong những đối thủ của Aetius, sau bị Aetius xử tử vào năm [[430]].]]
 
ThửaThời thiếu niênnhỏ, ông là đầy tớ hầu hạ trong cung, về sau ghi danh vào phục vụ trong một đơn vị quân đội là ''tribuni praetoriani partis militaris''.<ref>Gregory of Tours, ii.8; Jones, p. 21.</ref> Từ năm [[405]] cho đến năm [[408]], ông bị bắt làm con tin tạicho triều đình củavua [[Alaric IGoth]], vua người [[GothAlaric I]]. Vào năm 408, Alaric đề nghị phóng thích ông, nhưng Aetius từ chối, rồi ông được chuyển tới làm con tin tại triều đình củacho [[Rugila]], vua [[người Hung]].<ref>Gregory of Tours, ii.8; Merobaudes, ''Carmina'', iv, 42-46, and ''Panegyrici'', ii.1-4 and 127-143; Zosimus, v.36.1</ref> Gibbon và một số nhà sử học khác cho rằng Aetius là kết quả của sự giáo dục giữa các dânnước tộc"di man khaiđịch" mạnh mẽ và hiếu chiến như người Hung, đã tôi luyện cho ông một sức mạnh hùng dũng và tinh thần thượng võ mà người La Mã đang dần mất đi vào giai đoạn đó.<ref>Edward Gibbon, ''The Decline and Fall of the Roman Empire, Volume I'', Chap. XXXV (Chicago: Encyclopædia Britannica, Inc., 1952), p. 559.</ref> Thật vậy, dưới trướng của cả Alaric và Rugila, ông đã được học hỏi về việc dụng binh, nhất là về nghệ thuật lãnh đạo [[Kỵ binh]].<ref name="Ermatinger7576"/>
 
Năm [[423]], [[Hoàng đế Tây La Mã]] [[Honorius (Hoàng đế)|Honorius]] qua đời. Người có uy quyền lớn nhất là [[Castinus]], đã chọn tướng [[Joannes]], một viên Sĩ quan cấp cao làm người kế vị, dù cho Joannes không thuộcphải về dòng dõi củangười [[Vương triềunhà Theodosius]] và ôngkhông cũngđược khôngĐông nhậnLa được sự công nhận của Triều đình phương Đông. [[Hoàng đế Đông La Mã]] [[Theodosius II]], cùngsai đạicha tướngcon [[Ardaburius]], [[Aspar]] thốngđi lĩnh quân đội tiến hành chinh phạt Triều đìnhđánh Joannes ở phương Tây, đặtlập ngườicháu em họ của ôngHonorius là Valentinianus III (cháu Honorius) lên ngôithay. HoàngJoannes đếnúng Tâythế, Labèn Mã.phong Aetius được Hoàng đế Joannes bổ nhiệm làm ''[[cura palatii]]'' và đượccử pháiđi đếncầu nhờviện sựnước giúpHung. đỡTrong củalúc ngườiAetius Hungvắng, tuymùa nhiên Joannesnăm cùng các Thượng quan trong Triều đình của ông này bị425, quân độiĐông củaLa Valentinianus IIItiến bắtvào sống và[[Ravenna]] giết chết vào tháng 6 hoặc là tháng 7 năm 425Joannes. Một thời gian ngắn sau,Sau Flavius Aetius trởđem lạiquân cùngHung vớivề độicứu quânchủ, người Hung vàthì phát hiện ra rằng quyền bính của Đế chế phương Tây đều nằm trong tay vua Valentinianus III và mẹ ông này là [[Galla Placidia]]. Sauđã khicai chiếnquản đấuĐông vớiLa độiMã. quânAetius củađánh Asparmột dotrận Gallavới PlacidiaAspar, phái đến nhằmbị trừthất khửlợi; ông, nhận thấy đang rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, Aetius quyết định tiến hànhbèn thỏa hiệp với Thaí hậu Galla Placidia rằng ông sẽ rút quân người Hung về, đổi lại Valentinianus phải phong cho ông làm ''comes et magister militum per Gallias'' (Tổng tư lệnh quân đội xứ Gaul).<ref>Cassiodorus, ''Chronica'', s.a. 425; Gregory of Tours, ii.8; Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425; ''Chronica gallica 452'', 100; Jordanes, ''Romana'', 328; Jones, p. 22.</ref>
Vào nămNăm [[426]] Flavius Aetius đánh tan tác quân Tây Goth, và buộc họ phải từ bỏ cuộc baogiải vây thành [[Arelate]]. Vào năm 428, ông tỏđánh rabại thành công trong việc chiến đấu chống lại ngườiquân [[Frank]] và tái chiếm lại hầu hết các tỉnh nằm dọc sông [[Rhine]].<ref>Philostorgius, xii.4; Prosperus of Tirus, s.a. 425 and 428; ''Chronica gallica 452'', 102 (s.a. 427); Cassiodorus, ''Chronica'', s.a. 428. Cited in Jones, p. 22.</ref> Tiếp đó vào năm 429, Aetius được phong làm Tổng tư lệnh quân đội ("[[magister militum]]"). Cũng trong năm đó, ông đậpđánh tanđược nát ngườiquân [[Juthungi]] tại [[Raetia]] và tiêu diệt một nhóm ngườiquân [[Visigoth|Tây Goth]] ở gần [[Arelate]], bắt sống được thủ lĩnh của họ là [[Anaolsus]]. Vào năm [[431]], ông đánh tancả tácphá người [[Nori]] tại [[Noricum]], quay trở lại xứ [[Gallia|Gaul]], ông nghênh đón [[Hydatius]], Giám mục xứ [[Aquae Flaviae]], người hay phàn nàn về cuộc tấn công của người [[Suebi]].
 
Vào tháng 5 năm [[430]], Aetius buộc tội quan chấp chính [[Flavius Felix]] vì có âm mưu chống lại ông và xử tử cả nhà Felix để trừ hậu hoạn. Vào nămNăm [[432]], Aetiusquân một[[Frank]] lầnlại nữasang đánh, bạiAetius mộtcả cuộcphá tấnđược công của người [[Frank]]địch, ký kết hòa ước với họ và gửi trả Hydatius đến chỗ người Suebi tại [[Bán đảo Iberia|Iberia]].<ref>Prosperus of Tirus, s.a. 429 e 430; John of Antioch, fr. 201; Hydatius, 92, 93 and 94 (s.a. 430), 95 and 96 (s.a. 431), 98 (s.a. 432); ''Chronica gallica 452'', 106 (s.a. 430); Jordanes, ''Getica'', 176; Sidonius Apollinaris, ''Carmina'', vii.233. Cited in Jones, pp. 22-23.</ref>
 
===Tranh giành quyền lực===
Vào năm [[443]], Aetius cho phép những người Burgundi còn lại được định cư ở [[Savoy]], phía nam [[Hồ Genève|Hồ Geneva]]. Nhưng mối quan tâm cấp bách nhất của ông chính là những vấn đế tại Gaul và Iberia, chủ yếu là với Bagaudae. Ngoài ra ông còn cho phép người [[Alan]] tới định cư ở khoảng giữa [[Valence]] và [[Orléans]] chứa đựng những bất ổn xung quanh bán đảo [[Bretagne|Brittany]] ngày nay.
 
Việc người Alan định cư tại [[Armorica]] gây ra khá nhiều vấn đề rắc rối vào năm [[447]] hoặc [[448]]. Cũng trong thời gian này, người Frank, dưới sự thống lĩnh của vua [[Clodio]], đã tấn công vào khu vực gần [[Arras]], ở [[Belgica Secunda]], Aetius mau chóng ngăn chặn kẻ xâm lược gần [[Vicus Helena]], nơi ông trực tiếp chỉ đạo cuộc hành quân trong khi ngườicấp chỉ huy của ôngtrên là [[Majorianus|Majorian]] (về sau trở thành Hoàng đế) chiến đấu trong đội [[kỵ binh]].<ref>''Chronica Gallica a. 452'', 133 (s.a. 438); Sidonius Apollinaris, v.210-218. Cited in Jones, p. 27. Jan Willem Drijvers, ''Helena Augusta'', BRILL, ISBN 9004094350, p. 12.</ref> Vào năm [[450]], Aetius khôi phục lại mối quan hệ tốt với người Frank. Cùng năm đó, trên thực tế, vị vua của người Frank là Clodio đã qua đời, một viên quý tộc (''patricius'') ủng hộ con trai của Clodio lúc này đang ở thành La Mã quay trở về lên ngôi vua xứ Frank.<ref>Priscus, fr. 16; Gregory of Tours, ii.7. It is possible that this happened after the [[Battle of the Catalaunian Plains]] in 451 (Jones, p. 27).</ref>
 
===Đánh bại Attila tại Chalons===