Khác biệt giữa các bản “Viện hàn lâm Pháp”

n
clean up, replaced: → (14), → (55) using AWB
n (→‎Lịch sử: replaced: có 9 người → có chín người using AWB)
n (clean up, replaced: → (14), → (55) using AWB)
{{Infobox organisation
|name = Viện hàn lâm Pháp
|image = French Academy logo.png
|size = 300px
|motto = À l'immortalité<br />({{lang-en|To immortality}})
|formation = 22 tháng 2 năm 1635
|headquarters = Paris, Pháp
|leader_title = Thư ký vĩnh viễn
|leader_name = [[Hélène Carrère d'Encausse]]
|membership = 40 viện sĩ được gọi là ''những người bất tử''<br />({{lang-fr|les immortels}})<br />({{lang-en|the immortals}})
|website = [http://academie-francaise.fr/ Trang web tiếng Pháp Académie]
}}
[[Hình:Institut de France - Académie française et pont des Arts.jpg|nhỏ|phải|367px|Tòa nhà Institut de France trong đó có trụ sở của Viện hàn lâm Pháp]]
 
=== Xác định tiêu chuẩn ngôn ngữ Pháp ===
Nhiệm vụ đầu tiên của Viện là ghi nhận và nghiên cứu mọi biến đổi về ngữ điệu, cách phát âm và chính tả, rồi rút ra dạng mạch lạc nhất có thể dùng làm chuẩn mực cho các thợ in, các biên tập viên luật pháp và tài liệu hành chính, cho việc giáo dục. Để hoàn thành nhiệm vụ, Viện đã làm việc theo 2 hướng:
* Thu thập danh mục các từ (mot), cách phát âm, chính tả và nghĩa của chúng để soạn một quyển [[từ điển]] [[từ vựng]].
* Thực hiện cùng việc làm như trên để lập ra quyển [[Ngữ pháp tiếng Pháp]] mà việc xuất bản được chuyển từ năm này sang năm khác.
 
Ngày nay, Viện vẫn tiếp tục công trình này chuẩn bị cho việc xuất bản quyển [[Từ điển của Viện hàn lâm Pháp]] (''Dictionnaire de l'Académie française'') trong tương lai, ấn định việc sử dụng ngôn ngữ, và tham gia vào nhiều ủy ban [[thuật ngữ]] khác nhau.
 
Trung thành với nhiệm vụ ban đầu là thiệt lập các tiêu chuẩn cho ngôn ngữ chính thức, Viện hàn lâm Pháp phản đối việc nêu các ngôn ngữ khu vực trong [[Hiến pháp]] của Pháp, theo một tuyên bố công bố ngày 12.6.2008. Thực ra – theo các viện sĩ - việc đề cập này sẽ khiến Pháp phải chuẩn y [[Hiến chương ngôn ngữ khu vực hoặc ngôn ngữ thiểu số của châu Âu]] (Charte européenne des langues régionales ou minoritaires)<ref>[http://www.lemonde.fr/ Le Monde], édition du 18 juin 2008, L'Académie française ne veut pas des langues régionales dans la Constitution</ref>, điều mà Viện không muốn.
 
== Vai trò của Viện hàn lâm Pháp ==
* dấu mũ (^);
* động tính từ quá khứ của những tự động từ (''le participe passé des verbes pronominaux'');
* những dạng khác thường (''diverses anomalies'').
 
Năm điểm nêu trên không chỉ liên quan tới chính tả của từ ngữ hiện hữu, mà còn liên quan tới các từ ngữ sẽ được đặt ra, nhất là những từ khoa học và kỹ thuật.
 
Được "Hội đồng tối cao ngôn ngữ Pháp" trình bày, những sửa đổi này đã được Viện Hàn lâm Pháp nhất trí tán thành, cũng như "Hội đồng tối cao ngôn ngữ Pháp" của Québec (Canada) và "Hội đồng ngôn ngữ cộng đồng tiếng Pháp" của [[Bỉ]].
 
Những sửa đổi này đã được đăng trong ''Công báo Pháp'' ngày 6.12.1990. Những sửa đổi này, giảm nhẹ nội dung và phạm vi của chúng, được tóm tắt như sau:
* dấu gạch nối: một số từ sẽ thay dấu gạch nối bằng việc viết liền nhau (ví dụ: porte-manteau thành portemanteau, porte-feuille thành portefeuille);
* số nhiều của những từ ghép: những từ ghép kiểu "pèse-lettre" sẽ chuyển sang số nhiều theo quy tắc của những từ đơn (ví dụ: des pèse-lettres);
* dấu mũ: sẽ không buộc phải dùng dấu mũ trên các chữ "I" và "u", ngoại trừ trong những vĩ tố động từ và trong một số từ (ví dụ: qu’il fût, mûr);
* động tính từ quá khứ: sẽ không thay đổi trong trường hợp động từ ''laisser'' theo sau là một động từ lối vô định (ví dụ: elle s’est laissé mourir);
* Những dạng khác thường:
** những từ vay mượn: về nhấn trọng âm và số nhiều, các từ vay mượn sẽ theo quy tắc của những từ tiếng Pháp (ví dụ: un imprésario, des imprésarios);
 
=== Việc làm giàu ngôn ngữ Pháp ===
Việc phát triển khoa học và kỹ thuật từng tiến triển nhanh từ những thập niên trước đã có xu hướng thuận lợi cho việc bành trướng của tiếng Anh, thiệt cho tiếng Pháp. Để tránh việc dung những tthuật ngữ [[anglo-Saxon]], và những thuật ngữ nước ngoài rất thông thường trong các lãnh vực kỹ thuật nơi không ngừng xuất hiện những thực tế mới phải đặt tên, chính quyền đã đưa ra một quyết định về hệ thống thuật ngữ và việc dùng các từ mới. Quyết định này đã được đặt ra bởi sắc lệnh ngày 3.7.1996 liên quan tới việc làm giàu ngôn ngữ Pháp phù hợp với luật về ngôn ngữ Pháp tức [[luật Toubon]] ngày 4.8. 1994<ref>[http://www.academie-francaise.fr/role/defense.html Défense de la langue française sur le site de l'Académie française]</ref>.
 
Viện hàn lâm Pháp như vậy có tham gia đóng góp vào quyết định làm giàu ngôn ngữ Pháp cùng với [[Délégation générale à la langue française et aux langues de France]] (Phái đoàn chung về ngôn ngữ Pháp và các ngôn ngữ (địa phương) ở Pháp), [[Commission générale de terminologie et de néologie]] (Ủy ban chung về hệ thống thuật ngữ và việc dùng các từ mới), và những [[Commissions spécialisées de terminologie et de néologie]] (Ủy ban chuyên môn về hệ thống thuật ngữ và việc dùng các từ mới) làm việc trong các bộ <ref>[http://www.culture.gouv.fr/culture/dglf/terminologie/termino_sommaire_enrichissement.htm Dispositif d'enrichissement de la langue française sur le site du Ministère de la culture et de la communication]</ref>. Viện hàn lâm Pháp có đại diện ở nhiều giai đoạn trong quá trình soạn thảo các thuật ngữ. Viện tham gia vào các công việc của những ủy ban chuyên môn, trong mọi lãnh vực ([[tin học]], viễn thông, vận tải, khoa công trình hạt nhân, thể thao vv...) đề nghị những thuật ngữ tiếng Pháp để chỉ rõ những khái niệm mới. Viện là thành viên của Ủy ban chung xem xét những đề nghị của những ủy ban chuyên môn, và cho phép Công báo xuất bảnnhững thuật ngữ. Những thuật ngữ và định nghĩa của chúng cũng được xuất bản trên trang internet [[FranceTerme]] mà những nhà chuyên môn và quần chúng đều truy cập được.
Việc sử dụng các thuật ngữ tiếng Pháp thay cho các thuật ngữ nước ngoài như vậy trở thành bắt buộc trong các cơ quan hành chính và các cơ sở công cộng.
=== Khuyến khích hoạt động văn học ===
Nhiệm vụ thứ hai của Viện - việc bảo trợ văn học – không được dự trù trong quy chế ban đầu, bắt nguồn từ việc xử lý các tài sản tặng dữ và tài sản di tặng được trao cho viện từ thời Chế độ cũ<ref>như Giải [[Montyon]]chẳng hạn</ref>. Như vậy, Viện hàn lâm Pháp hiện nay trao khoảng 60 [[giải thưởng văn học]] hàng năm, trong đó có [[Giải thưởng lớn Văn học của Viện Hàn lâm Pháp]], [[Giải thưởng lớn cho tiểu thuyết của Viện hàn lâm Pháp]], [[Giải thưởng lớn văn học Paul Morand]], [[Giải thưởng lớn của Cộng đồng Pháp ngữ]] vv...
 
Viện hàn lâm Pháp cũng cấp các khoản trợ cấp cho những hội văn hóa hay hội trí thức, những việc từ thiện, trợ cấp cho các gia đình đông con, các quả phụ nghèo và một số học bổng.
 
== Lịch sử ==
[[Tập tin:La Coupole de l'Institut de France.JPG|nhỏ|Viện hàn lâm Pháp, nơi các viện sĩ nhóm họp trong các buổi họp công cộng.]]
Nguồn gốc Viện hàn lâm Pháp bắt đầu từ những cuộc họp không chính thức của nhóm nhà văn học thuộc «hội Conrart» từ năm 1629 tại số 135 phố Saint-Martin, nơi cư ngụ của [[Valentin Conrart]], cố vấn của vua [[Louis XIII]]. Các cuộc họp mặt văn học này đã gợi ý cho [[hồng y Richelieu]] lập ra dự án thành lập Viện hàn lâm Pháp, biến các cuộc họp này thành một hội đoàn văn học dưới quyền nhà vua, theo mẫu [[Accademia della Crusca]]<ref>Hội văn học gồm các nhà thông thái, nhà ngôn ngữ học, nhà ngữ văn học</ref> thành lập ở [[Firenze]] ([[Ý]]) năm [[1583]] và đã xuất bản tập ''Vocabolario'' (Ngữ vựng) năm [[1612]]<ref>Einar Ingvald Haugen, Anwar S. Dil "The Ecology of Language" nhà xuất bản Stanford University Press 1972, đoạn 169</ref>. Conrart xin [[lettre patente]]<ref>chứng thư của nhà vua cho phép thành lập Viện</ref>, soạn thảo quy chế và điều lệ<ref>[http://www.academie-francaise.fr/role/statuts_AF.pdf Statuts et règlements]</ref> ngày 13.3.1634, được hồng y Richelieu chứng thực ngày 16.2.[[1635]], và được vua [[Louis XIII]] ký ngày 22.2.[[1635]] (ngày được coi là ngày khai sinh chính thức của Viện) và được đăng ký ở Nghị viện Paris ngày 16.7.[[1637]]. Viện gồm 22 viện sĩ, trong đó có chín người trong nhóm ban đầu cộng thêm 13 viện sĩ mới. Valentin Conrart trở thành thư ký suốt đời từ năm 1634 tới 1675; hồng y Richelieu được phong là cha đẻ và người bảo trợ của Viện<ref>[[Paul Pellisson]] ''Histoire de l’Académie française depuis son établissement jusqu’en 1652'' (1653). Réédition: [[Éditions Slatkine|Slatkine Reprints]], Paris, 1989. [http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k737033.pdf Disponible sur Gallica Vol. 1] [http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k73704f.pdf Vol. 2]</ref>.
[[Tập tin:Ancienne porte de l'Académie française.jpg|nhỏ|trái|upright|Cửa cũ của Viện hàn lâm Pháp (trước năm 1780) với khẩu hiệu «À l'immortalité» (Để lưu danh muôn thuở).]]
 
Quyển ''Histoire de l'Académie françoise'' (tập một xuất bản năm [[1653]]) do [[Paul Pellisson]], một viện sĩ của Viện viết, tập thứ hai do [[Pierre-Joseph Thoulier d'Olivet]] viết thuật lại lịch sử của Viện, được xuất bản năm [[1729]]), soạn thảo từ các sổ sách của Viện Hàn lâm Pháp và dưới ảnh hưởng của các viện sĩ, là nguồn duy nhất về việc thành lập Viện hàn lâm này. Pellisson cho rằng Viện không có tính mục đích bác học nào như [[académie de Baïf]]<ref>hội âm nhạc và thơ do nhà thơ Baïf và nhạc sĩ Joachim Thibault de Courville thành lập</ref> thành lập năm 1570 và "Hội văn học Mersenne" hoặc tính mục đích chính trị như "Hội Dupuy"<ref>Hélène Merlin-Kajman, ''L'Excentricité académique'', éd. Les Belles-Lettres, 2001, 278p. ISBN 2251380523</ref>, tuy nhiên chuyện thuật lại của ông quên rằng ''câu lạc bộ Conrart'' qui tụ các nhà văn, các nhà quý tộc lớn và cũng nhằm mục đích trao đổi các thông tin để tạo cho nhóm này vị trí ưu tiên trong lãnh vực chính trị, xã hội ở thời đại này<ref>Nicolas Schapira, ''Un professionnel des lettres au XVIIe siècle: Valentin Conrart, une histoire sociale'', éd. Champ Vallon, 2003, p. 77</ref>. Hơn nữa, Viện hàn lâm cho ý kiến về các tác phẩm văn học (xem sự can thiệp của Viện vào [[Le Cid (Corneille)#La « querelle du Cid »|«cuộc tranh luận về tác phẩm Le Cid của Corneille»]]), hồng y Richelieu xem đây là một phương tiện để kiểm soát sinh hoạt văn hóa và trí thức Pháp. Trong ý muốn thu thập, hồng y Richelieu muốn ngôn ngữ Pháp là việc của những người đại diện các lãnh vực tri thức khác nhau (các giáo sĩ<ref>Lettrés de l'époque, ce sont souvent des cadets de famille à qui on ne peut donner l'héritage et la fonction militaire. Ils atteignent 24 ecclésiastiques sur les 40 membres en 1712</ref>, các quân nhân - người đầu tiên là [[Armand du Cambout|công tước Armand de Coislin]] năm 1652 - các nhà ngoại giao, rồi các nhà văn và triết gia - người đâu tiên là [[Montesquieu]] năm 1727 - dưới triều vua [[Louis XV]] người đã đe dọa bãi bỏ Viện hàn lâm khi viện muốn độc lập nhờ "Phong trào Ánh Sáng") và quyết định là Viện hàn lâm mở ra cho 40 viện sĩ bình đẳng và độc lập, vì thế Viện không cần trợ cấp<ref name="Encausse">[[Hélène Carrère d'Encausse]], ''Des siècles d'immortalité - L'Académie française 1635-...'', Fayard, 2011, 401 p.</ref>.
 
Đặc tính chính thức của Viện «những người tài trí» được hình thành, ban đầu Viện họp ở bất cứ nhà viện sĩ nào, sau đó họp tại nhà quan chưởng ấn [[Pierre Séguier]] từ năm 1639, theo ý kiến của [[Colbert]] họp tại [[cung điện Louvre]] từ năm 1672, và cuối cùng họp ở [[collège des Quatre-Nations]] (trở thành [[Institut de France]] năm 1795) từ năm 1805 tới ngày nay<ref>[http://www.academie-francaise.fr/histoire/index.html L'histoire de l'Académie française]</ref>.
 
Trong 3 thế kỷ rưỡi tồn tại, trong đó Viện đã là hiện thân của quyền hành dưới các triều vua [[Louis XIII]] và [[Louis XIV]], biểu lộ tư tưởng cách mạng dưới các triều vua [[Louis XV]] và [[Louis XVI]], Viện đã biết duy trì thể chế của mình, hoạt động đều đặn, ngoại trừ sự gián đoạn từ năm [[1793]] tới năm [[1803]] trong thời [[Convention thermidorienne]]<ref>Hội nghị quốc ước tháng thermidor tức tháng 11 theo Lịch Cộng hòa Pháp</ref>, thời [[Chế độ đốc chính]] và lúc khởi đầu thời [[Chế độ tổng tài]]. Năm 1694 Viện xuất bản ấn bản đầu tiên quyển [[Dictionnaire de l'Académie française]] (''Từ điển của Viện hàn lâm Pháp''). Năm 1793, do sắc lệnh ngày 8.8.1793, Hội nghị quốc ước bãi bỏ mọi viện hàn lâm hoàng gia, trong đó có Viện hàn lâm Pháp, và xác định lệnh cấm bầu các thành viên mới thay thế cho các thành viên đã tạ thế. Trong thời [[Cách mạng Pháp]], [[André Morellet|tu sĩ Morellet]] đã cứu vãn các hồ sơ lưu trữ của Viện hàn lâm bằng cách đem về cất giấu ở nhà ông. Năm 1795 (sắc lệnh ngày 22.8.1795) các Viện hàn lâm này được thay thế bằng một Viện duy nhất: [[Institut de France]]. [[Luật Daunou|luật về việc tổ chức Ủy ban giáo dục công cộng ngày 3 tháng Sương mù năm IV]]<ref>tháng Sương mù tức tháng thứ hai theo lịch Cộng hòa Pháp, từ ngày 23/10 tới ngày 21/11</ref> (tức ngày thứ Ba 25.10.1795) quyết định việc tổ chức Viện<ref>La séance solennelle de rentrée des cinq académies perpétue la tradition célébrant cette loi par une séance plénière se tenant le mardi le plus proche du 25 octobre.</ref>. Do nghị định ngày 3 tháng pluviôse (tháng mưa) năm XI (tức 23.1.1803) [[Napoléon Bonaparte]] - viên tổng tài thứ nhất - quyết định phục hồi các viện hàn lâm cũ, nhưng chỉ đơn giản là những ngành (hay đơn vị) của [[Institut de France]]. Đơn vị thứ hai «ngành ngôn ngữ và văn học Pháp» trên thực tế tương ứng với Viện hàn lâm Pháp cũ. Ngày 21.3.1816, vua [[Louis XVIII]], muốn trở lại với thời kỳ tiền cách mạng, đã trả lại tên cũ - Viện hàn lâm - cho các đơn vị (hay ngành) đã bị Bonaparte đổi tên, nhưng tự cho phép ông có quyền ưu tiên chọn lựa các viện sĩ.
 
Lưu ý là năm 1800, theo lời xúi giục của [[Jean-Pierre Louis de Fontanes]], [[André Morellet]] và [[Jean Baptiste Antoine Suard]], Lucien Bonaparte - lúc bấy giờ là bộ trưởng bộ Nội vụ - từng mơ ước trở thành một viện sĩ, đã nhắm tổ chức lại Viện hàn lâm Pháp. Viên tổng tài thứ nhất, người anh của ông (tức Napoléon Bonaparte) xuất thân từ cuộc Cách mạng, chống đối dự án này và đã viết cho ông ta<ref>Dans la même lettre, le Premier Consul décline la proposition qui lui avait été faite d'être membre de l'Académie française restaurée, prétextant avoir des choses plus importantes à faire. {Pour mémoire, il était membre de l'Institut depuis 1797}.</ref> ngày 26 tháng messidor năm VIII (tức 15.7.1800) như sau:
* nếu một hiệp hội mang cái tên nực cười (sic) Viện hàn lâm Pháp và theo điều lệ cũ của nó, thì ý định của chính phủ sẽ là bãi bỏ nó ngay lập tức.
 
Chủ nghĩa yêu nước nẩy sinh từ cuộc [[Chiến tranh thế giới lần thứ nhất]] dành ưu tiên cho việc tuyển chọn nhiều thống chế (người đầu tiên là [[thống chế Lyautey]] năm [[1912]]). Trong thời bị Đức chiếm đóng, Viện hàn lâm Pháp đã có những viện sĩ cộng tác với kẻ thù (như [[Charles Maurras]], [[Abel Bonnard]], [[Abel Hermant]] vv… và [[thống chế Pétain]]) từ năm 1929. Một truyền thuyết muốn rằng [[François Mauriac]] là linh hồn của cuộc kháng cự hàn lâm trong khi chính [[Georges Duhamel]] được bầu tạm thời vào chức thư ký vĩnh viễn năm 1942 là người đã tránh cho Viện hàn lâm khỏi bị lệ thuộc vào chế độ Vichy, đặc biệt là bằng việc đình chỉ các cuộc bầu cử (viện sĩ) như (từng xảy ra) năm 1790<ref>Hélène Carrère d'Encausse, ''[http://www.academie-francaise.fr/immortels/discours_SPA/carrere_2010.html Le mystère de l'Académie: pouvoir intellectuel, pouvoir politique], séance publique annuelle de l'Institut, 2 décembre 2010</ref>. Khi nước Pháp được giải phóng, giới trí thức bị [[Comité national des écrivains]] (''Ủy ban nhà văn quốc gia'') thanh lọc và muốn bãi bỏ Viện hàn lâm này. Georges Duhamel đã bảo vệ thành công sự nghiệp của viện trước tướng [[Charles de Gaulle]]. Bộ luật về tội [[indignité nationale]]<ref>tạm dịch: "tội bất xứng với quốc gia", tội này nhẹ hơn "tội phản quốc"</ref> dự trù là mọi người bị coi là mắc tội này và thuộc vào một cơ quan hiến định sẽ bị tự động khai trừ - đã không bao gồm những viện sĩ cộng tác với kẻ thù ở Viện hàn lâm này.
 
Viện hàn lâm từ đó lại tìm được sự độc lập hoàn toàn về chính trị và tài chính<ref>[http://legifrance.gouv.fr/jopdf/common/jo_pdf.jsp?numJO=0&dateJO=20060419&numTexte=00002&pageDebut=00002&pageFin= Loi de programme n° 2006-450 du 18 avril 2006]</ref> đối với ''Institut de France'' do [[loi de programme pour la recherche de 2006]] (luật về chương trình nghiên cứu năm 2006)<ref name="Encausse"/>.
 
[[Marguerite Yourcenar]] là nữ viện sĩ đầu tiên được bầu vào Viện hàn lâm Pháp năm [[1980]], như một sự công nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trước «bộ lạc 40 người nam» này, trong khi [[Léopold Sédar Senghor]] là người [[châu Phi]] đầu tiên trở thành viện sĩ năm [[1983]].
 
===Nguồn gốc 40 ghế bành===
Một số lớn nhà văn, thường là nổi tiếng, chưa hề bước qua cửa Viện hàn lâm, vì họ không bao giờ là ứng viên, hoặc không trúng cử, hoặc đã bị từ trần sớm.
 
Từ ngữ [[ghế bành thứ 41]] do nhà văn [[Arsène Houssaye]] tạo ra năm [[1855]] để chỉ những nhà văn nêu trên. Trong số những tên tuổi lẫy lừng, ta có thể nêu những người như [[René Descartes]], [[Molière]], [[Blaise Pascal]], [[François de La Rochefoucauld]], [[Jean-Jacques Rousseau]], [[Denis Diderot]], [[Pierre-Augustin Caron de Beaumarchais]], [[André Chénier]], [[Honoré de Balzac]], [[Alexandre Dumas cha]], [[Théophile Gautier]], [[Gustave Flaubert]], [[Stendhal]], [[Gérard de Nerval]], [[Guy de Maupassant]], [[Charles Baudelaire]], [[Émile Zola]], [[Alphonse Daudet]], [[Marcel Proust]]<ref>{{chú thích web | url = http://books.google.fr/books?id=Z5QpAAAAYAAJ&pg=PA30|partie=|numéro=|chap=|passage=30-32|id=|commentaire= | tiêu đề = Histoire du 41. fauteuil de l'Académie française | author = | ngày = | ngày truy cập = 10 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = Google Books | ngôn ngữ = }}</ref>.
 
===Từ chối ghế được đề nghị===
== Những «người bất tử» ==
[[Tập tin:Pierre Loti en académicien.jpg|nhỏ|upright|[[Pierre Loti]] mặc áo viện sĩ trong ngày được nhận vào Viện hàn lâm Pháp, ngày 7.4.1892.]]
Viện hàn lâm Pháp gồm 40 viện sĩ, được bầu bởi những viện sĩ đương nhiệm của viện. Từ ngày thành lập, Viện đã có trên 700 viện sĩ (tới năm 2009 là 719). Viện tập họp các [[nhà thơ|thi sĩ]], các [[tiểu thuyết gia]], các [[nhà soạn kịch]], các [[triết gia]], các [[sử gia]], các [[thầy thuốc|bác sĩ y khoa]], các [[nhà khoa học]], các [[dân tộc học|nhà dân tộc học]], các [[phê bình nghệ thuật|nhà phê bình nghệ thuật]], các [[quân sự|nhà quân sự]], các chính khách, các chức sắc giáo hội đặc biệt lừng danh trong lãnh vực [[tiếng Pháp|ngôn ngữ Pháp]].
 
Các viện sĩ có biệt danh là những người bất tử do khẩu hiệu '''À l’Immortalité''' (''để lưu danh muôn thuở''), khắc trên dấu triện được người sáng lập - [[hồng y Richelieu]] – trao cho Viện. Khẩu hiệu này nguyên thủy nhằm chỉ ngôn ngữ Pháp chứ không chỉ các viện sĩ. Các viện sĩ thường được mời gọi hãy là những quan tòa làm sáng tỏ việc sử dụng đúng cách các từ ngữ, và do đó định rõ những khái niệm và những giá trị của các từ ngữ này. Quyền uy tinh thần này về mặt ngôn ngữ bắt rễ trong các cách sử dụng, các truyền thống. Khái niệm nói trên (lưu danh muôn thuở, bất tử) đã nhanh chóng nới rộng để chỉ các viện sĩ vì những danh tiếng họ để lại sau khi chết, sự bất tử về văn học mà nhà vua trao cho để đổi lấy việc thống nhất ngôn ngữ của vương quốc và sự độc lập của nó đối với Giáo hội. Kể từ thế kỷ 18, các viện sĩ cũng như mọi nhà văn đã triển khai một đạo đức học không muốn phục vụ quyền lực, mà giữ danh hiệu «những người bất tử» này<ref>La Responsabilité de l'écrivain. Littérature, droit et morale en France, XIXe-XXIe siècle|éditeur=Seuil|auteur=[[Gisèle Sapiro]]|année=2011</ref>.
 
[[Edmond Rostand]], bản thân là viện sĩ, đã cười nhạo Viện Hàn lâm Pháp trong vở kịch ''[[Cyrano de Bergerac (kịch)|Cyrano de Bergerac]]'' bằng cách nêu ra cách hài hước các viện sĩ bị quên lãng của thế hệ thứ nhất: «[[François d'Arbaud de Porchères]], [[François de Cauvigny de Colomby]], [[Amable de Bourzeis]], Bourdon, Arbaud… / Tất cả những tên tuổi này mà không ai sẽ bị chết, thật đẹp mặt!»
==Nữ viện sĩ==
{{Bài chi tiết|Phụ nữ trong Viện hàn lâm}}
Năm 1980, [[Marguerite Yourcenar]], nữ tiểu thuyết gia kiêm người viết tiểu luận, trở thành phụ nữ đầu tiên được bầu vào Viện hàn lâm Pháp. Sau đó, Viện đã có thêm các nữ viện sĩ [[Jacqueline de Romilly]] trong năm [[1988]], [[Hélène Carrère d'Encausse]] năm [[1990]], [[Florence Delay]] năm [[2000]], [[Assia Djebar]] năm [[2005]], [[Simone Veil]] năm [[2008]] và [[Danièle Sallenave]] năm[[2011]].
 
[[Áo viện sĩ]] (habit vert) mà các viện sĩ mặc – cùng với [[bicorne]] (mũ 2 sừng), áo choàng và thanh kiếm – trong các buổi họp long trọng ở Viện hàn lâm, đã được họa sĩ [[Jean-Baptiste Isabey]] vẽ mẫu dưới thời [[Chế độ tổng tài]]. Phẩm phục này dùng chung cho các viện sĩ của "Institut de France". Các «người bất tử» cũng như các giáo sĩ được miễn trừ, cũng như không phải đeo kiếm. Tuy nhiên các nữ viện sĩ Jacqueline de Romilly, Helène Carrère d'Encausse, Florence Delay và Simone Veil đã mặc áo viện sĩ trong lễ tiếp đón họ vào Viện. Nữ viện sĩ Helène Carrère d'Encausse là nữ viện sĩ đầu tiên đeo kiếm - một vũ khí do người thợ kim hoàn [[Goudji]] nước [[Gruzia]] làm. Các nữ viện sĩ Florence Delay, Assia Djebar và Simone Veil cũng đã chọn đeo kiếm. Nữ viện sĩ Jacqueline de Romilly đã nhận một ghim cài (broche) trượng trưng sau khi được bầu vào "Académie des inscriptions et Belles-Lettres" năm 1975.
 
=== Số viện sĩ đầy đủ ===
Số 40 viện sĩ chỉ được hoàn toàn đầy đủ lần đầu tiên trong lịch sử vào ngày 14.2.1639 (ngày bầu viện sĩ [[Daniel de Priézac]]), tức là gần 50 năm sau những cuộc bổ nhiệm đầu tiên. Số lượng này được giữ cho tới ngày 5.5.1640 (viện sĩ [[François d'Arbaud de Porchères]] từ trần), sau đó sớm được [[Olivier Patru]] thay thế.
 
Cho tới cuối nửa thế kỷ thứ 19, số lượng viện sĩ thường đầy đủ. Mỗi khi có một viện sĩ từ trần thì ngay sau đó đã có cuộc bầu viện sĩ mới thay thế. Một số ví dụ:
*Năm [[1820]] ở ghế số 24: [[Volney]] từ trần ngày 26 tháng 4; bầu cử [[Emmanuel de Pastoret]] thay thế ngày 8 tháng 6 và thâu nhận vào viện ngày 24 tháng 8.
*Năm [[1830]] ở ghế số 6: [[Pierre-Marc-Gaston de Lévis]] từ trần ngày 15 tháng 2; bầu cử công tước [[Philippe-Paul de Ségur]] thay thế ngày 25 tháng 3 và thâu nhận vào viện ngày 29 tháng 6.
Sau đó, thời hạn bầu cử và thâu nhận vào viện kéo dài đáng kể. Ngày nay phải mất khoảng 1 năm sau khi một viện sĩ qua đời mới có một cuộc bầu cử thay thế, và phải mất khoảng 1 năm nữa mới diễn ra việc thâu nhận viện vĩ mới vào viện, để số 40 viện sĩ hiếm khi đầy đủ. Cho tới ngày nay, số lượng viện sĩ đạt mức đầy đủ lần chót từ ngày 26.3.2009 (ngày bầu [[François Weyergans]]) tới ngày 14.4.2009 ([[Maurice Druon]] qua đời)<ref>La précédente période a duré du 16 juin 2005 (élection d’[[Assia Djebar]]) au 17 avril 2006 (mort de [[Jean Bernard]]).</ref>.
 
Nhưng nếu tính số viện sĩ được nhận vào viện – mà không chỉ tính những người mới đắc cử - thì số lượng viện sĩ đầy đủ của Viện chỉ đạt được trong 24 ngày suốt thế kỷ 20, còn thế kỷ 21 thì chưa có ngày nào đầy đủ.
Nếu không tính đến việc khai trừ ''trên thực tế '' [[Charles Maurras]] và [[Philippe Pétain]] vì mắc tội [[indignité nationale]] (bất xứng với quốc gia)<ref>Leur condamnation à la dégradation nationale, respectivement le 27 janvier 1945 et le 15 août 1945, provoque automatiquement la destitution et l'exclusion de toutes fonctions, offices publics et corps constitués, mais l’Académie française, tout en reconnaissant la vacance de leurs fauteuils, n’a pas voté sur leur radiation et ils n’ont été remplacés qu’après leur mort.</ref>, thì có 2 thời kỳ khác trong đó Viện có đầy đủ viện sĩ:
* Từ 13.11.1947 (thâu nhận [[Maurice Genevoix]]) tới 22.8.1949 ([[Edmond Jaloux]] qua đời), tức 1 năm, 9 tháng, 9 ngày;
* Từ 22.6.1950 (thâu nhận [[Jean-Louis Vaudoyer]]) tới 8.4.1952 ([[Jean Tharaud]] qua đời), tức 1 năm 9 tháng, 17 ngày.
 
== Các viện sĩ hiện nay==
! Ghế!! Viện sĩ!!Ngày được bầu!! Thâu nhận bởi!! Ngày nhậm chức!! Đáp từ<br />bài diễn văn <br />lễ nhậm chức
|-style="height:28px;"
| [[Ghế 1|1]] || [[Claude Dagens]] || 17.4.[[2008]] || [[Florence Delay]] || 14.5.[[2009]]||[http://www.academie-francaise.fr/immortels/discours_reponses/delay_florence_2009.html <nowiki>[*]</nowiki>]
|-style="height:28px;" bgcolor="#EFEFEF"
| [[Ghế 2|2]] || [[Hector Bianciotti]] || 18.1.[[1996]] || [[Jacqueline de Romilly]] || 23.1.[[1997]] ||
[http://www.academie-francaise.fr/immortels/discours_reponses/bredin.html <nowiki>[*]</nowiki>]
|-style="height:28px;"
| [[Ghế 7|7]] || Ghế trống<ref>Ghế trống từ khi [[Jacqueline de Romilly]] qua đời ngày 18.12.2010</ref> || || || ||
|-style="height:28px;" bgcolor="#EFEFEF"
| [[Ghế 8|8]] || [[Michel Déon]] || 8.6.[[1978]] || [[Félicien Marceau]] || 22.2.[[1979]] ||
| [[Ghế 28|28]] || [[Jean-Christophe Rufin]] || 19.6.[[2008]] || [[Yves Pouliquen]] || 12.11.[[2009]] ||[http://www.academie-francaise.fr/immortels/discours_reponses/pouliquen_2009.html <nowiki>[*]</nowiki>]
|-style="height:28px;"
| [[Ghế 29|29]] || [[Amin Maalouf]] || 23.6.[[2011]] || ''Chưa nhậm chức'' || ||
|-style="height:28px;" bgcolor="#EFEFEF"
| [[Ghế 30|30]] || [[Danièle Sallenave]] || 7.4.[[2011]] || ''Chưa nhậm chức'' || ||
|-style="height:28px;"
| [[Ghế 31|31]] || Ghế trống<ref>Ghế trống từ khi [[Jean Dutourd]] qua đời ngày 17.1.2011</ref> || || || ||
|-style="height:28px;"
| [[Ghế 32|32]] || [[François Weyergans]] || 26.3.[[2009]] || [[Erik Orsenna]] || 16.6.[[2011]] ||
[http://www.academie-francaise.fr/immortels/discours_reponses/fumaroli_2009.html <nowiki>[*]</nowiki>]
|-style="height:28px;" bgcolor="#EFEFEF"
| [[Ghế 40|40]] || Ghế trống<ref>Ghế trống từ khi [[Pierre-Jean Rémy]] qua đời ngày 28.4.2010</ref> || || || ||
|-style="height:28px;"
|}