Khác biệt giữa các bản “Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975”

n (Đã lùi lại sửa đổi của Bùi Viết Thoại (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Tuanminh01)
Thẻ: Lùi tất cả
:''Quốc hội Hoa Kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái [[Trung tâm Tài nguyên Đông Dương]] (Indochina Resource Center, 1 trung tâm của những người phản chiến) đang hết sức tìm cách tiêu diệt quý quốc.''
 
Nền kinh tế và chi tiêu của Việt Nam Cộng hòa duy trì được chủ yếu nhờ viện trợ Mỹ. Nền công nghiệp miền Nam nhỏ bé, nông nghiệp bị chiến tranh tàn phá. [[Lạm phát phi mã]] xảy ra cùng với tệ [[tham nhũng]], lợi dụng chức quyền càng làm cho nền kinh tế thêm tồi tệ. Ông Bùi Diễm, đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ, nhận định tình hình kinh tế và quân sự của miền Nam Việt Nam rất xấu khiến người dân không hài lòng với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tiền lương quân nhân không đủ sống do đó tình hình chính trị cũng xấu theo. Nạn [[đào ngũ]] là một vấn đề nghiêm trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12/1974, có 176.000 lính đào ngũ. Tại các lực lượng tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và thủy quân lục chiến (15%). Trong khi đó, [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh hy sinh mục đích cá nhân để cống hiến cho nỗ lực chiến tranh của tập thể, đó là ưu thế quyết định của họ.<ref>[http://ic.galegroup.com/ic/uhic/ReferenceDetailsPage/ReferenceDetailsWindow?failOverType=&query=&prodId=UHIC&windowstate=normal&contentModules=&display-query=&mode=view&displayGroupName=Reference&limiter=&currPage=&disableHighlighting=true&displayGroups=&sortBy=&search_within_results=&p=UHIC%3AWHIC&action=e&catId=&activityType=&scanId=&documentId=GALE%7CBT2336200026&source=Bookmark&u=imgacademy&jsid=5116c558dde83f89d502b9ce6a804831 Army of the Republic of Vietnam (ARVN)] Encyclopedia of the Vietnam War. Ed. Stanley I. Kutler. New York: Charles Scribner's Sons, 1996. U.S. History in Context. Web. 30 Apr. 2015.</ref> Bên cạnh đó, họ đã cố gắng duy trì nỗ lực chiến tranh giải phóng đất nước suốt 30 năm và không có lý do gì để từ bỏ nó khi mà quân đội của mình ngày càng hùng mạnh và chiếm được thế thượng phong. Mọi người lính và chỉ huy quân Giải phóng đều cho rằng ngày chiến thắng đã cận kề, chỉ còn cách họ một trận đánh cuối cùng.
 
=== Sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ===
Sau này, trong tập hồi ký ''Mùa Xuân Đại Thắng'', Đại tướng [[Văn Tiến Dũng]] của [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam]] đã viết: một trong những động cơ thúc đẩy [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] mở cuộc tổng tấn công ở [[Nam Bộ Việt Nam|miền Nam]] là do Mỹ đã giảm viện trợ, khiến cho lực lượng [[quân lực Việt Nam Cộng hòa]] (vốn được tổ chức rập khuôn theo lối đánh tốn kém của Mỹ) đã không thể có đủ tài chính để duy trì số lượng lớn vũ khí. Đó là vì "hỏa lực không quân đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu."<ref>Văn Tiến Dũng, ''Our great spring victory'' p 17-18.</ref> Trong khi quân đội Sài Gòn cần 3 tỉ đô mỗi năm để duy trì bộ máy chiến tranh thì đối thủ của họ chỉ cần 10% con số đó để xây dựng một lực lượng quân sự đủ lớn để vừa giữ vững miền Bắc vừa tăng cường quân đội chiến đấu ở miền Nam. Sự suy yếu của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] còn do yếu tố tâm lý khi tinh thần của binh lính xuống rất thấp, số lượng đào ngũ tăng mạnh.
 
Tuy nhiên, quân số và vũ khí của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] vẫn có những sự vượt trội nhất định khi có 1.351.000 quân, 383 xe tăng (162 [[M48 Patton|M48]]A3, 221 [[M41 Walker Bulldog|M41]]) và 1.691 Thiết giáp chở quân [[M-113]], không quân vượt trội hoàn toàn với 550 phi cơ [[A-1 Skyraider|A-1H]], [[A-37 Dragonfly|A-37]] và [[Northrop F-5|F-5]], 23 Phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1.000 phi cơ [[Bell UH-1 Iroquois|UH-1]] và [[CH-47 Chinook|CH-47]], khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17, khoảng 150 phi cơ C7, [[Douglas C-47 Skytrain|C-47]], [[C-119]] và [[C-130 Hercules|C-130]]), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ [[AC-119]], [[Lockheed AC-130|AC-130 Spectre]] Gunship. Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC-119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314, trong khi đó Quân Giải phóng không thể triển khai lực lượng không quân ở miền Nam và lực lượng tăng thiết giáp cũng tương đối hạn chế.<ref>Văn Tiến Dũng, ''Đại thắng mùa xuân'', Chương 4.</ref> Ngay cả lực lượng bộ binh của quân Giải phóng cũng không thể đạt tới con số 1 triệu quân, kể cả ở thời điểm cao nhất.
Sự suy yếu của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] còn do yếu tố tâm lý khi tinh thần của binh lính xuống rất thấp, số lượng đào ngũ tăng mạnh. Tại các lực lượng tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%)<ref>http://ic.galegroup.com/ic/uhic/ReferenceDetailsPage/ReferenceDetailsWindow?failOverType=&query=&prodId=UHIC&windowstate=normal&contentModules=&display-query=&mode=view&displayGroupName=Reference&limiter=&currPage=&disableHighlighting=true&displayGroups=&sortBy=&search_within_results=&p=UHIC%3AWHIC&action=e&catId=&activityType=&scanId=&documentId=GALE%7CBT2336200026&source=Bookmark&u=imgacademy&jsid=5116c558dde83f89d502b9ce6a804831</ref>
 
Tuy nhiên, quân số và vũ khí của [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa]] vẫn có những sự vượt trội nhất định khi có 1.351.000 quân, 383 xe tăng (162 [[M48 Patton|M48]]A3, 221 [[M41 Walker Bulldog|M41]]) và 1.691 Thiết giáp chở quân [[M-113]], không quân vượt trội hoàn toàn với 550 phi cơ [[A-1 Skyraider|A-1H]], [[A-37 Dragonfly|A-37]] và [[Northrop F-5|F-5]], 23 Phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1.000 phi cơ [[Bell UH-1 Iroquois|UH-1]] và [[CH-47 Chinook|CH-47]], khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17, khoảng 150 phi cơ C7, [[Douglas C-47 Skytrain|C-47]], [[C-119]] và [[C-130 Hercules|C-130]]), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ [[AC-119]], [[Lockheed AC-130|AC-130 Spectre]] Gunship. Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC-119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314, trong khi đó Quân Giải phóng không thể triển khai lực lượng không quân ở miền Nam.<ref>Văn Tiến Dũng, ''Đại thắng mùa xuân'', Chương 4.</ref>
 
Theo hồi ký của Đại tướng [[Văn Tiến Dũng]] thì cục diện chiến trường đang chuyển biến ngày càng bất lợi cho [[quân lực Việt Nam Cộng hoà]]. Tại Khu 9, các cuộc hành quân lấn chiếm bị thất bại, hơn 2.000 đồn bốt bị phá, 400 [[ấp chiến lược]] với gần 800.000 dân bị quân Giải phóng xóa bỏ. Khu 8 có hơn 200 ấp chiến lược với hơn 130.000 dân bị xóa bỏ. Tại Khu 5, quân Giải phóng đã chuyển lên thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh ([[Nông Sơn]], [[Thượng Đức]], [[Tuy Phước]], [[Minh Long]], [[Giá Vụt]]), xoá hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân.<ref name=dung>Đại thắng mùa xuân. Văn Tiến Dũng, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. Chương 2</ref>
148

lần sửa đổi