Khác biệt giữa các bản “Bắc Macedonia”

n
clean up, replaced: hế kỷ 11 → hế kỷ XI, hế kỷ 12 → hế kỷ XII, hế kỷ 13 → hế kỷ XIII, hế kỷ 14 → hế kỷ XIV, hế kỷ 15 → hế kỷ XV, hế kỷ 19 → hế kỷ XIX (2), hế k using AWB
n (clean up, replaced: hế kỷ 11 → hế kỷ XI, hế kỷ 12 → hế kỷ XII, hế kỷ 13 → hế kỷ XIII, hế kỷ 14 → hế kỷ XIV, hế kỷ 15 → hế kỷ XV, hế kỷ 19 → hế kỷ XIX (2), hế k using AWB)
=== Thời kỳ Trung cổ ===
[[Tập tin:Ohrid in Macedonia3.jpg|220px|nhỏ|Pháo đài Ohrid tại Macedonia, được xây dựng dưới thời vua Samuil của Bulgaria]]
Vào cuối [[thế kỷ 6VI]], [[Đế quốc Đông La Mã]] (''Byzantine'') dần trở nên hùng mạnh và bắt đầu kiểm soát những lãnh thổ tan rã của [[Đế quốc La Mã]]. Trong khi đó, tại lãnh thổ Cộng hòa Macedonia ngày nay, [[người Slav]] đã tràn vào từ phía bắc. Các dân tộc khác tại vùng này như [[người Hy Lạp]], [[người Latinh]], người Illyria và người Thracia đã bị đẩy đi nơi khác hoặc bị người Slav đồng hóa. Người Slav sau đó bắt đầu nhiều cuộc chiến tranh lớn chống lại Đế quốc Đông La Mã. Họ đã xâm chiếm được hầu hết lãnh thổ [[Hy Lạp]], một bộ phận quan trọng của Đế quốc Đông La Mã ngoại trừ một số thành phố lớn quan trọng như [[Athena]] hay [[Thessaloniki]]. Để đối phó với người Slav, Đế quốc Đông La Mã đã nhiều lần sử dụng những đội quân viễn chinh lớn. Dưới thời hoàng đế [[Justinianus II]] của Đông La Mã, những đội quân viễn chinh này đã trục xuất tới 200.000 người từ vùng Macedonia đến trung tâm [[Tiểu Á]] (nay thuộc [[Thổ Nhĩ Kỳ]]) để triều cống và phục vụ trong quân đội của đế chế. Trong khi rất nhiều người Slav tại Macedonia đã phải thừa nhận sự thống trị của đế quốc thì một bộ phận lớn khác vẫn cố gắng duy trì bản sắc dân tộc, đồng thời họ vẫn chiếm đa số trong các nhóm sắc tộc tại địa phương. Cùng với sự phát triển của [[Đế quốc Bulgaria thứ nhất]], người Slav tại Macedonia đã sát nhập vào nền văn hóa Slav của người [[Bulgaria]] này.
 
Người Slav tại Cộng hòa Macedonia ngày nay đã chấp nhận [[Kitô giáo|Đạo Cơ đốc]] là tôn giáo chính thức của họ vào [[thế kỷ 9IX]] dưới thời hoàng đế [[Boris I của Bulgaria]]. Những linh mục người Byzantine Hy Lạp là thánh [[Kyrillô và Mêthôđiô|Cyril]] và thánh [[Kyrillô và Mêthôđiô|Methodius]] đã sáng lập ra bảng chữ cái Glagolit và đã có ảnh hưởng quan trọng trong việc hình thành nền văn học của người Slav tại khu vực lúc bấy giờ. Những công trình của họ đã được chấp nhận tại Bulgaria trung cổ và thánh [[Clement của Ohrid]] đã dựa vào đó mà sáng tạo nên [[bảng chữ cái Kirin]] cho các dân tộc Slav. Thánh [[Naum của Ohrid]] đã thành lập nên Trường Văn học Ohrid, một trong những trung tâm văn hóa lớn của Đế chế Bulgaria lúc bấy giờ.
 
Vào năm 1018, hoàng đế [[Basileios II|Basil II]] của Đông La Mã đã đánh thắng hoàng đế [[Samuil của Bulgaria]] và lãnh thổ Cộng hòa Macedonia ngày nay lại thuộc về chủ quyền của Đông La Mã. Những thế kỉ sau đó, vùng đất này liên tiếp bị cai trị bởi nhiều thế lực khác nhau. Vào [[thế kỷ 11XI]], người Đông La Mã đã kiểm soát hoàn toàn khu vực Balkan nhưng sau đó, đến cuối [[thế kỷ 12XII]] vùng đất này lại rơi vào tay của [[Đế quốc Bulgaria thứ hai]]. Đế chế này sau đó đã vấp phải nhiều vấn đề chính trị nội bộ và Macedonia lại trở về tay Đông La Mã vào [[thế kỷ 13XIII]]. [[Thế kỷ 14XIV]], vùng đất Macedonia trở thành một phần của [[Đế quốc Serbia]]. [[Skopje]] (nay là thủ đô Cộng hòa Macedonia) trở thành thủ đô của hoàng đế [[Stefan Dušan|Stefan Dushan]] của người Serbia.
 
Sau khi hoàng đế Stefan Dushan mất, Đế quốc Serbia nhanh chóng suy yếu do những người kế vị kém cỏi và sự tranh giành quyền lực trong nước. Hậu quả là phần lớn khu vực Balkan, trong đó có Macedonia đã rơi vào tay [[Đế quốc Ottoman]] suốt 5 thế kỉ sau đó.
 
=== Phong trào Vận động Dân tộc ===
Sự cai trị tàn bạo của [[Đế quốc Ottoman|Đế chế Ottoman]] đã khiến cho nhiều cuộc nổi dậy của [[người Macedonia]] nổ ra. Một trong những cuộc nổi dậy sớm nhất nổ ra là [[Khởi nghĩa Karposh]] vào năm 1689. Từ cuối [[thế kỷ 19XIX]], nhiều cuộc vận động dân tộc đã diễn ra với mục tiêu là thành lập một nhà nước tự trị cho người Macedonia trên toàn vùng Macedonia. Các tổ chức chính trị quan trọng như [[Tổ chức Cách mạng Quốc gia Macedonia]] (viết tắt theo tiếng Anh là IMRO) được thành lập đã đóng vai trò quan trọng trong việc vận động tinh thần dân tộc đất nước và tiến hành những cuộc khởi nghĩa chống lại chính quyền Ottoman, lúc bấy giờ đã bắt đầu suy yếu. Năm 1903, IMRO đã tiến hành cuộc [[Khởi nghĩa Iliden-Preobrazhenie]] với đỉnh cao là sự thành lập nước [[Cộng hòa Krushevo]]. Tuy cuộc khởi nghĩa đã bị đàn áp dã man song nó được đánh giá là nền móng và tiền thân của sự thành lập nước Cộng hòa Macedonia sau này.
 
=== Thế kỉkỷ 20XX ===
[[Tập tin:Vardar003.png|nhỏ|phải|250px]]
Sau hai cuộc [[chiến tranh Balkan]] vào năm 1912 và 1913 rồi sau đó là sự sụp đổ của [[Đế quốc Ottoman]], vùng [[Macedonia]] được phân chia thành các phần của [[Hy Lạp]], [[Bulgaria]] và [[Serbia]]. Vùng lãnh thổ ngày nay là Cộng hòa Macedonia trở thành một bộ phận của Serbia với tên gọi '''Južna Srbija''' ("Nam Serbia"). Sau [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]], Serbia lại trở thành một phần của [[Vương quốc của người Serb, người Croat và người Sloven]]. Năm 1929, vương quốc này đổi tên thành Vương quốc Nam Tư và chia thành các tỉnh. Nam Serbia được đổi thành tỉnh Vardar nằm trong vương quốc.
[[Giáo hội Công giáo Rôma|Công giáo La Mã]] có khoảng 11.000 tín đồ ở Macedonia. Giáo hội Công giáo Macedonia được thành lập vào năm 1918, và được tạo thành chủ yếu bởi người cải đạo từ Chính Thông giáo sang Công giáo và con cháu của họ. Giáo hội Công giáo Macedonia thực hành theo nghi lễ Byzantine và hiệp thông hoàn toàn với [[Giáo hội Công giáo Rôma]] và các Giáo hội Công giáo Đông phương khác.<ref>David M. Cheney. "Catholic Church in Macedonia, The Former Yugoslav Republic of Catholic-Hierarchy]". Catholic-hierarchy.org. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009.</ref>
 
Có một cộng đồng Tin Lành nhỏ ở Macedonia. Tín đồ Tin Lành nổi tiếng nhất trong cả nước là cố Tổng thống [[Boris Trajkovski]]. Ông xuất thân từ cộng đồng Methodist, đó là nhà thờ Tin Lành lớn nhất và lâu đời nhất tại Cộng hòa Macedonia, có niên đại từ cuối thế kỷ 19XIX. Từ những năm 1980 cộng đồng Tin Lành đã phát triển, một phần thông qua niềm tin mới và một phần với sự giúp đỡ truyền giáo bên ngoài.
 
Cộng đồng [[Người Do Thái|Do Thái]] Macedonia, có khoảng 7.200 người trước cuộc chiến tranh thế giới II, đã bị giết chết gần như hoàn toàn: chỉ có 2% người Do Thái sống sót ở Macedonia.<ref>"Blog Archives » Macedonia's Jewish Community Commemorates the Holocaust, and Embraces the Future". Balkanalysis.com. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2010.</ref> Sau khi giải phóng họ và kết thúc chiến tranh, hầu hết người Do Thái Macedonia đã chọn di cư tới [[Israel]]. Hiện nay, con số cộng đồng Do Thái khoảng 200 người, tất cả hiện sống ở [[Skopje]]. Người Do Thái Macedonia hầu hết thuộc nhánh [[Sephardic]] - con cháu của những người tị nạn từ [[thế kỷ 15XV]] những người đã chạy trốn khỏi [[Tây Ban Nha]] và [[Bồ Đào Nha]] trong cuộc thanh trừng người [[Do Thái giáo]] ở 2 nước này.
 
==Hình ảnh==