Khác biệt giữa các bản “Nghè Xuân Phả”

==Nguồn gốc ==
Nghè Xuân Phả tồn tại từ thời [[nhà Đinh]]<ref>[http://www.vanhoadoisong.vn/news/index.php?&strurl=89146 Vị thế của Quốc gia Đại Việt qua Trò Xuân Phả]</ref>. Truyền thuyết địa phương kể lại rằng, khi tiến quân vào Ái Châu đánh dẹp sứ quân Ngô Xương Xí, Đinh Bộ Lĩnh sai sứ giả đi khắp nơi cầu bách linh, bách tính và hiền tài cùng nhau đứng lên đánh giặc cứu nước. Khi sứ giả đi đến bờ [[sông Chu]] thì gặp giông tố phải trú lại trong Nghè Xuân Phả. Đến đêm, thần Thành hoàng làng Xuân Phả báo mộng về cách phá giặc, sứ giả vội về bẩm cáo lại với nhà Vua. Vua thấy kế hay nên làm theo và quả nhiên thắng trận. Để tỏ lòng biết ơn Thành hoàng làng Xuân Phả, nhà Vua đã phong tặng tước vương gọi là Đại Hải Long Vương. Nhà vua còn ban thưởng cho dân làng Xuân Phả 5 điệu múa trò để hàng năm dâng lên Thành hoàng trong ngày hội làng. Có thể khẳng định rằng TXP là vũ điệu dân gian giành riêng cho Đại Hải Long Vương thành hoàng làng Xuân Phả''.
 
Sách “Thanh Hóa chư thần lục” thời Nguyễn ghi về sự tích vị thần “Đại Hải Long Vương” được thờ trong Nghè Đệ Nhất như sau: “Triều nhà Đinh, vào năm Mậu Thân (968) một hôm nhân dân bỗng nghe ngoài sông lớn sóng gió nổi lên dữ dội và nghe giữa sông có tiếng huyên náo. Dân xã bèn ra xem thì thấy bãi đất bằng ở cạnh sông bỗng thành một vực lớn mầu nước lặng trong, có một con rắn lớn nổi lên ở mặt nước, và rồi bỗng biến thành một tòa miếu, tường ngói nguy nga. Nhân dân hai xã sợ hãi bèn sắm lễ vật tế cáo, được thần báo cho tên hiệu trên và lập đền thờ. Các triều đại đều có phong tặng”. Quy mô kiến trúc ngôi nghè gồm: tiền đường (5 gian), chính tẩm (3 gian), có tả vu, hữu vu, nghinh môn kiến trúc theo kiểu chồng diêm 3 tầng. Có bái đường rộng. Nghè là nơi tổ chức hội làng.
 
Ngày nay, ở xã Thọ Tân, [[Triệu Sơn]], Thanh Hóa còn đền thờ Vua [[Đinh Tiên Hoàng]] và những ghi chép về nguồn gốc hình thành Trò Xuân Phả <ref>[http://trieuson.gov.vn/web/trang-chu/di-tich-le-hoi/di-tich-cap-tinh/den-tho-vua-dinh-tien-hoang-xa-tho-tan.html Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng - Xã Thọ Tân]</ref> như sau: Khi giang sơn Đại Cồ Việt thống nhất, các bộ tộc và các nước lân bang mang lễ vật triều cúng và ca vũ mừng nhà vua lên ngôi... Tưởng nhớ đến công lao người đã âm phù thắng trận, Vua Đinh Tiên Hoàng đã truyền đem toàn bộ cống phẩm và trò diễn đến đền thờ Đại Hải Long Vương mà không lưu lại ở [[kinh đô Hoa Lư]]. Vua lại giao cho bà [[Hoàng hậu nhà Đinh|hoàng hậu Nguyệt Nương]] quê ở [[Hà Nam]] chủ trì việc này. Bà xuất thân vốn là một ca vũ cung đình, đã tiếp thu các điệu múa của các nước lân bang và huấn luyện thành đội múa hàng, hàng năm cứ đến ngày 10-2 âm lịch, bà trực tiếp hướng dẫn đội múa đến biểu diễn tại đền thờ thần Đại Hải Long Vương. Về sau dân làng Xuân Phả xin bà truyền bá điệu múa ấy cho dân làng tự tập, tự diễn, từ đấy trở đi điệu múa cũng có tên là múa Xuân Phả (hay còn gọi là Ngũ quốc lân bang đồ cống tiến) và được các thế hệ người dân lưu truyền đến ngày nay, trở thành một sinh hoạt văn hóa độc đáo ở Xứ Thanh.