Khác biệt giữa các bản “Kế hoạch Marshall”

không có tóm lược sửa đổi
Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia [[Châu Âu]] ngày [[12 tháng 7]] năm [[1947]]. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho [[Liên Xô]] và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 [[tỷ]] [[đô la Mỹ]] viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia [[Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế]] - OECD.<ref>Khoảng 13 tỷ đô la so với tổng sản phẩm quốc nội 258 tỷ đô la năm 1948.</ref> Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.
 
Kế hoạch Marshall thực chất là để phục vụ cho các kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm ràng buộc, kiểm soát các nước Tây Âu và chống lại Liên Xô, nhưng nó cũng tạo lợi ích cho kinh tế các nước Tây Âu. Cho tới khi kết thúc dự án, nền [[kinh tế]] của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ [[Đức|Tây Đức]], đã phát triển vượt mức trước chiến tranh. Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng và phồn vinh chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ [[thuế quan|hàng rào thuế quan]] và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.
 
Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách ''[[laissez-faire]]'' (tạm dịch: ''thả nổi'') cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế.<ref>Woods, trang 189-191</ref> Người ta cho rằng [[Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi]] của [[Liên Hiệp Quốc]], vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.
Phần lớn châu Âu bị tàn phá nặng nề với hàng triệu người chết và bị thương sau [[Chiến tranh thế giới thứ hai]]. Chiến sự tàn phá trên toàn lục địa, trải rộng trên một diện tích còn lớn hơn [[Chiến tranh thế giới thứ nhất]]. Các cuộc ném bom dai dẳng cũng đồng nghĩa với việc phần lớn các thành phố lớn đều bị tàn phá hủy nặng nề, với các khu công nghiệp bị đánh phá nghiêm trọng. Rất nhiều thành phố lớn, bao gồm cả [[Warszawa]] và [[Berlin]] hoàn toàn đổ nát, các thành phố khác, như [[Luân Đôn|London]] và [[Rotterdam]], thì bị thương tích nặng nề. Hạ tầng cơ sở kinh tế điêu tàn, hàng triệu người trở thành vô gia cư. Mặc dù [[nạn đói ở Hà Lan năm 1944]] đã dịu đi cùng với nguồn viện trợ, nhưng sự hoang tàn của ngành [[nông nghiệp]] cũng khiến cho nạn đói xảy ra tại một số vùng trên lục địa, lại càng trở nên nghiêm trọng vì mùa đông đặc biệt khắc nghiệt năm 1946–1947 tại vùng tây bắc châu Âu. Đặc biệt hạ tầng [[giao thông]] bị phá hoại nghiêm trọng, vì đường sắt, cầu cống, đường sá là các mục tiêu không kích quan trọng, trong khi phần lớn các đoàn tàu thương mại đã bị đánh chìm. Mặc dù phần lớn các thị trấn nhỏ và làng mạc ở Tây Âu không phải chịu cảnh tàn phá ghê gớm như vậy, nhưng việc hệ thống giao thông bị tiêu hủy cũng làm cho họ trở nên cô lập về mặt kinh tế. Bất kỳ vấn đề nào trên đây đều không dễ để giải quyết, vì phần lớn các quốc gia tham chiến đều đã kiệt quệ về tài chính.
 
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế châu Âu đã bị tổn thất nặng nề và cuộc khủng hoảng sau thời kỳ thế chiến, kéo dài đến tận [[thập niên 1920]], đã dẫn đến sự bất ổn và suy thoái trên toàn cầu. Nước Mỹ, mặc dù lúc đó đang theo [[chủ nghĩa biệt lập]], cũng cố gắng thúc đẩy tăng trưởng tại châu Âu, chủ yếu là thông qua sự tham gia của các ngân hàng Mỹ. Khi Đức không thể trả nổi các khoản [[bồi hoàn chiến phí]], người Mỹ can thiệp bằng cách nới rộng các khoản vay lớncấp cho Đức, một món nợ mà người Mỹ không đòi lại được khi họ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1941.<!--Câu cuối đoạn này khó hiểu quá. Mekong Bluesman trả lời: họ không đòi được vì họ tham gia Thế chiến thứ hai chống lại Đức-->
 
Tại [[Washington, D.C.|Washington]], người ta nhất trí là những sai lầm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất không được phép tái diễn. Bộ ngoại giao dưới thời Tổng thống [[Harry S. Truman]] dồn tâm sức theo đuổi các hoạt động đối ngoại, nhưng [[Quốc hội Hoa Kỳ|Quốc hội]] thì phần nào tỏ ra không quan tâm. Ban đầu, người ta hy vọng là chỉ cần không nhiều tiền lắm cũng đủ để tái thiết châu Âu; và Anh, Pháp, với sự giúp sức từ các thuộc địa của họ, sẽ nhanh chóng khôi phục nền kinh tế của họ. Tuy nhiên, tới năm 1947 vẫn chỉ có rất ít tiến bộ. Và mùa đông giá lạnh liên tục trong mấy năm làm tình hình vốn đã xấu lại càng xấu hơn. Nền kinh tế châu Âu dường như không phát triển mạnh với tỷ lệ [[thất nghiệp]] cao, lương thực thiếu thốn, dẫn đến các cuộc [[đình công]] và bất ổn trong một số quốc gia. Năm 1947, nền kinh tế châu Âu vẫn còn ở dưới mức trước chiến tranh, và hầu như không có dấu hiệu tăng trưởng. Sản lượng nông nghiệp ở khoảng 83% mức năm 1938, sản xuất công nghiệp là 88%, xuất khẩu chỉ ở mức 59%.<ref>Michael J. Hogan, ''The Marshall Plan'', trang 30.</ref>
 
Sự thiếu hụt lương thực là một trong những vấn đề trầm trọng nhất. Trước chiến tranh, Tây Âu phụ thuộc vào nguồn lương thực thặng dự từ Đông Âu, nhưng những nguồn đó đã bị chặn lại phía sau [[Bức màn sắt]]. Tình hình trở nên đặc biệt tồi tệ tại Đức, nơi mà theo Alan S. Milward trong năm 1946–47 lượng [[Ca-lo|kilocalorie]] trung bình trên đầu người chỉ là 1.800, không đủ đảm bảo sức khỏe về lâu về dài.<ref>Alan S. Milward, ''The Reconstruction of Western Europe''.</ref> Các nguồn khác cho biết lượng kilocalorie trong các năm đó thay đổi, có thể thấp đến mức 1.000 và 1.500. [[William Clayton]] thông báo cho Washington là "hàng triệu người đang từ từ chết đói".<ref>Gregory A. Fossedal, ''Our Finest Hour''.</ref> Một nhân tố cốt yếu khác cho nền kinh tế nói chung là sự thiếu hụt than đá, càng trở nên trầm trọng vì mùa đông lạnh lẽo 1946–47. Tại Đức, các căn hộ không được sưởi ấm, khiến hàng trăm người chết cóng. Tại Anh, tình hình không đến nỗi tồi tệ như vậy, nhưng nhu cầu dân chúng khiến cho sản xuất công nghiệp bị đình trệ hoàn toàn. Một trong những động cơ thúc đẩy kế hoạch trên là lòng nhân đạo muốn chấm dứt những thảm cảnh đó.
[[Hình:Bundesarchiv_Bild_183-B0527-0001-753,_Krefeld,_Hungerwinter,_Demonstration.jpg|nhỏ|220px|Nạn đói mùa đông năm 1947, hàng ngàn người phản đối ở Tây Đức vì thiếu hụt lương thực (ngày 31 tháng 3 năm 1947). Tấm bảng ghi: "Chúng tôi muốn có than, chúng tôi muốn có bánh mì"]]
[[Đức]] nhận được nhiều đề nghị từ các quốc gia Tây Âu đổi lương thực lấy [[than đá]] và sắt thép tối cần thiết khi đó. Nhưng cả [[Ý]] lẫn [[Hà Lan]] đều không thể được bán rau quả mà trước đó họ vẫn bán ở Đức, với hệ quả là Hà Lan phải tiêu hủy một phần đáng kể vụ thu hoạch của mình. [[Đan Mạch]] muốn đổi 150 tấn mỡ lợn một tháng, [[Thổ Nhĩ Kỳ]] muốn đổi hạt dẻ; [[Na Uy]] muốn đổi cá và dầu cá, [[Thụy Điển]] muốn đổi một lượng lớn mỡ. Các quốc gia [[Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai|Đồng Minh]], tuy nhiên, không muốn để người Đức được mua bán.<ref>Nicholas Balabkins, ''Germany Under Direct Controls: Economic Aspects of Industrial Disarmament 1945 - 1948'', Rutgers University Press, 1964 trang 125</ref> Trước tình hình đó, Tướng [[Lucius D. Clay]] và [[Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân]] (''Joint Chiefs of Staff'') ngày càng tỏ ra lo lắng trước sự gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đức, cũng như tình hình thất bại của các nền kinh tế châu Âu không thể phục hồi mà không có nền công nghiệp Đức, là nền móng mà trước kia họ phải dựa vào. Mùa hè năm 1947, Ngoại trưởng, Tướng George Marshall, dựa vào lý do "cơ sở an ninh quốc gia", cuối cùng đã thuyết phục được Tổng thống Harry S. Truman bãi bỏ chỉ thị JCS 1067 trừng phạt Đức, thay vào đó bằng chỉ thị JCS 1779.<ref>[http://www.usip.org/pubs/peaceworks/pwks49.html The Road Ahead: Lessons in Nation Building from Japan, Germany, and Afghanistan for Postwar Iraq, bởi Ray Salvatore Jennings] tháng 5 năm 2003, Peaceworks No. 49, [[United States Institute of Peace]] trang 14–15</ref> Tháng 7 năm 1947 chỉ thị JCS 1067, vốn vẫn định hướng cho lực lượng chiếm đóng Mỹ tại Đức nhằm "... không thực hiện bất kỳ bước nào để tiến tới khôi phục nền kinh tế Đức", được thay thế bởi chỉ thị JCS 1779, nhấn mạnh "Một châu Âu trật tự, phồn vinh đòi hỏi phải có sự đóng góp kinh tế từ một nước Đức ổn định và hiệu quả".<ref>[http://time-proxy.yaga.com/time/magazine/article/0,9171,887417,00.html Pas de Pagaille!] Time Magazine, Jul. 28, 1947.</ref> Chỉ thị JCS 1067 đã có hiệu lực trong vòng hơn hai năm. Những hạn chế áp đặt lên nền sản suất công nghiệp của Đức phần nào trở nên thông thoáng hơn, cho phép sản xuất thép tăng lên từ mức 25% trước chiến tranh<ref name="autogenerated3">[http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,934360,00.html "Cornerstone of Steel"], ''[[Time (tạp chí)|Time Magazine]]'', ngày 21 tháng 1 năm 1946</ref><ref name="autogenerated1">[http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,852764,00.html Cost of Defeat], ''[[Time (tạp chí)|Time Magazine]]'', 8 tháng 4 năm 1946</ref> tới định mức 50% năng suất trước thế chiến.<ref>[http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,887417,00.html Pas de Pagaille!] Time Magazine, Jul. 28, 1947.</ref>
727

lần sửa đổi