Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
clean up, replaced: hế kỷ 10 → hế kỷ X (2), hế kỷ 11 → hế kỷ XI (2), hế kỷ 13 → hế kỷ XIII, hế kỷ 14 → hế kỷ XIV, hế kỷ 16 → hế kỷ XVI, hế kỷ 17 → hế kỷ XVII (2), using AWB
Có ý kiến này cho rằng từ lâu đời đã có dòng họ Lương cư ngụ tại miền Trung Việt Nam, là làng Hội Triều (Hội Trào), huyện [[Hoằng Hóa]], tỉnh [[Thanh Hóa]], gần bãi biển [[Sầm Sơn]]. Nơi đây, hiện nay vẫn còn đền thờ ông [[Lương Đắc Bằng]], một thành viên của dòng họ.
 
Vào khoảng cuối thế kỷ 17XVII, một số người trong họ di cư ra [[Hà Nội]] (Bắc Việt Nam), thành lập một chi hội mới và thành lập một làng mới: làng Nam Phổ ([[hàng Bè (phố Hà Nội)|phố Hàng Bè]], Hà Nội). Trên mộ bia của ông Lương Ngọc Thụ ở [[Ngã Tư Sở|Ngã tư Sở]] (Hà Nội) có ghi chữ Hán "Thanh-Hà Đệ Lục Đại" (đời thứ sáu Thanh Hóa - Hà Nội) - và chính ông cũng đã tự đặt bút hiệu là Triều Nam (Hội Triều, Nam Phổ) để ghi rõ sự liên hệ giữa 2 chi họ.
 
Một phiên bản "Về nguồn gốc họ Lương" giải thích rằng có 2 anh em là người Chiết Giang (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam vào thế kỷ 14XIV, một đến làng Hội Trào như đã nêu trên, và một đến làng Cao Hương (Vụ Bản, Nam Định) lập ra họ Lương ở Cao Hương, họ của ông [[Lương Thế Vinh]].
 
Tuy nhiên tướng nhà Đinh [[Lương Văn Hoằng]] đã có từ 500 năm trước, nên họ Lương Hội Trào và họ Lương Cao Hương đều không thể là thủy tổ chung.
Với các [[dân tộc thiểu số]], một vài nơi họ Lương được gọi là họ Lường nhưng xem các bài cúng bằng [[chữ Nôm]] thấy vẫn ghi là 梁, tức Lương <ref name= luongtoc/>. Một số người Hoa cũng ghi là họ Lường trong tiếng Việt, do cách phiên âm trực tiếp từ tiếng Quảng Đông sang chứ không dựa vào âm Hán Việt. Họ Lương hay Lường ở các dân tộc thiểu số phía Bắc Việt Nam như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai,... được cho là di cư từ Trung Quốc từ hàng ngàn năm trước.
 
Trong khi đó một số chi nhánh họ Lương ở [[Nam Bộ]] không thuộc dạng này bởi đó là những di dân có nguồn gốc từ [[Phúc Kiến]], [[Triều Châu]] sang hồi [[thế kỷ 17XVII]] sau sự sụp đổ của [[nhà Minh]]. Đó là những [[người Minh Hương]] (明鄉人), tự nhận và nhà nước công nhận họ là [[Hoa kiều]].
 
Nguyễn Khôi trong cuốn ''Các Dân tộc ở Việt Nam, cách dùng Họ và đặt Tên'' <ref>Nguyễn Khôi. Các Dân tộc ở Việt Nam, cách dùng Họ và đặt Tên. Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2006.</ref> cho rằng: “Các họ phổ biến của người Thái là: Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà, cầm, Chẩu, Chiêu, Đèo, Hoàng, Khằm, Leo, Lều, Lềm, Lý, Lò, Lô, La, Lộc, Lự, Lường, Mang, Mè, Nam, Nông, Ngần, Ngu, Nho, Nhọt, Panh, Pha, Phia, Quàng, Sầm, Tụ, Tày, Tao, Tạo, Tòng, Vang, Vì, Sa, Xin. Trong đó 12 họ gốc là Lò, Lường, Quàng, Tòng, Cà, Lỡo, Mè, Lù, Lềm, Ngần, Nông”.
! width="140px" | Tên!! Sinh thời!! Hoạt động
|-
|[[Lương Kỳ Tiên]] <br />Lương Hộ Tống <br />Lương Viết Bô || Thế kỷ 3III TCN || Ba cha con cụ [[Lương Kỳ Tiên]], quê ở Thụy Vân [[Việt Trì]], Phú Thọ là các tướng thời [[vua Hùng]] thứ 18, chiến đấu chống quân Tần, được cho là những người họ Lương tại Việt Nam sớm nhất được ghi nhận.
|-
|Lương Thị Kiền <br />Lương Thị Tấu || Thế kỷ 1I || Hai chị em, là hai vị nữ tướng tham gia khởi nghĩa [[Hai Bà Trưng]], người ở vùng nay là [[Hồng Việt, Đông Hưng|xã Hồng Việt]], Đông Hưng, Thái Bình<ref name= "TBO" />.
|-
| [[Tướng nhà Đinh#Danh sách|Lương Văn Hoằng]] || Thế kỷ 10X || [[Tướng nhà Đinh]] tham gia đánh dẹp [[12 sứ quân]], quê Nam Định.
|-
| [[Tướng nhà Đinh#Danh sách|Lương Tuấn]] || Thế kỷ 10X || Kiều mộc thiền sư Lương Tuấn là người thân cận và có công lớn giúp [[Đinh Điền]] xây dựng căn cứ. Ông đã vận động quân dân lập 9 Đại bản doanh từ Yên Lữ, Yên Bạc quê ngoại của Đinh Điền đến các nơi như: Xuân Dương, Phú Mỹ, Yên Liêu, Bồ Vi và Chùa Tháp góp phần giúp [[Đinh Bộ Lĩnh]] dẹp tan [[loạn 12 sứ quân]]. [[Tướng nhà Đinh#Danh sách|Kiều Mộc thiền sư]] còn là người thầy dạy kinh cho Tượng Trân công chúa rồi đưa Thượng Trân Công Chúa về Trúc Lâm tu hành.
|-
| Lương Thế Sung
|Thế kỷ 11XI
|Người Tuyên Quang làm Toát Thông Vương kiêm phụ đạo ở triều Lý
|-
| Lương Nhậm Văn
|Thế kỷ 11XI
| Làm quan thời Thái tổ Lý Công Uẩn và thăng Thái sư thời Lý Thái Tông (1028-1054)
|-
|-
| Lương Uất
|Thế kỷ 13XIII
| Trấn thủ châu Lạng Giang vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ (Thiệu Bảo thứ 4, 1282) đã có công cấp báo tình hình quân Nguyên về triều
|-
| [[Lương Đắc Bằng]] || 1472-1522 || Bảng nhãn, thượng thư [[Bộ Lại]], quê [[Hoằng Phong, Hoằng Hóa|xã Hoằng Phong]], [[Hoằng Hóa]], Thanh Hóa.
|-
| [[Lương Hữu Khánh]] || Thế kỷ 16XVI || [[Thượng thư]] [[Bộ Lễ]] thời [[Nhà Lê trung hưng|Lê Trung hưng]], con của [[Lương Đắc Bằng]], quê [[Hoằng Phong, Hoằng Hóa|xã Hoằng Phong]], [[Hoằng Hóa]], Thanh Hóa.
|-
| [[Lương Như Hộc]] || 1420-1501 || Tổ nghề in mộc bản