Khác biệt giữa các bản “Ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo”

n
→‎top: clean up, replaced: hế kỷ thứ 10 → hế kỷ thứ X using AWB
n (→‎top: clean up, replaced: hế kỷ thứ 10 → hế kỷ thứ X using AWB)
Các ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo được nói bởi những [[người Austronesia|người Nam Đảo]] ở các đảo khu vực [[Đông Nam Á]] và [[Thái Bình Dương]], và một số lượng nhỏ hơn ở lục địa châu Á. Rìa địa lý về phía đông bắc là [[Campuchia]], [[Lào]], [[Việt Nam]] và phụ cận, cùng với [[bán đảo Mã Lai]]. Rìa phía bắc không vượt quá phía bắc của tỉnh [[Pattani (tỉnh)|Pattani]] nằm ở phía nam [[Thái Lan]]. [[Tiếng Malagasy]] được nói ở đảo [[Madagascar]] nằm ở ngoài khơi bờ biển phía đông của châu Phi ở [[Ấn Độ Dương]].
 
Một phần của ngữ tộc này chịu ảnh hưởng mạnh của [[tiếng Phạn]] và đặc biệt là [[tiếng Ả Rập]], do phía Tây của khu vực đã từng là một thành trì của [[Phật giáo]], [[Ấn Độ giáo]], và từ thế kỷ thứ 10X là [[Hồi giáo]].
 
Hai đặc trưng hình thái của ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo là hệ thống [[phụ tố]] hóa và [[láy âm]] (lặp lại toàn bộ hay một phần của một từ, chẳng hạn như ''wiki-wiki'' để tạo ra các từ mới). Giống như các ngôn ngữ Nam Đảo khác, chúng có các kho âm vị nhỏ; vì thế một văn bản có ít âm nhưng thường xuyên lặp lại. Phần lớn các ngôn ngữ trong ngữ tộc Mã Lai-Đa Đảo cũng thiếu các cụm [[phụ âm]] (tương tự như [str] trong tiếng Anh). Phần lớn cũng chỉ có một tập hợp nhỏ các [[nguyên âm]], với 5 là phổ biến.