Khác biệt giữa các bản “Tú Xương”

n (Đưa về bản cũ-Những sửa đôi đáng kể sau này toàn của tài khoản con dối)
| website =
}}
Nhà thơ '''Tú Xương''' tên thật là '''Trần Tế Xương''' (陳濟昌), tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh. Tên bố mẹ đặt cho lúc đầu là Trần Duy Uyên. Ông sinh ngày [[5 tháng 9]] năm [[1870]] (tức ngày 10 tháng 8 năm [[Canh Ngọ]]), ở làng Vị Xuyên, huyện [[Mỹ Lộc]], [[nam Định|tỉnh Nam Định]] (trước đây là phố Hàng Nâu, hiện nay là phố Minh Khai, phường Vị Xuyên, [[nam Định (thành phố)|thành phố Nam Định]]). Ông mất ngày [[29 tháng 1]] năm [[1907]].<ref>Tú Xương tác phẩm giai thoại, Nguyễn Văn Huyền (chủ biên), hội văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1986, lời giới thiệu</ref>
*''Văn học nằm ngoài những định luật của băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.''<ref>Câu nói của Xantưkôp Sêđrin, nhà văn Nga (1826 - 1889)</ref>. Thơ văn của Tú Xương là một trường hợp như vậy. Thể xác của Tú Xương đến nay đã hơn 100 năm nát với cỏ cây., Nhưngnhưng sự nghiệp văn chương của ông thì vẫn như một chàng trai xinh đẹp, sung sức, bất chấp mọi thử thách thời gian.
 
''Kìa ai chín suối xương không nát''
Người ta vẫn tin hai câu thơ này là của [[Nguyễn Khuyến]] viếng Tú Xương.<ref>Có người cho rằng hai câu thơ trên là hai câu đối ở hai cột lăng của Đoàn Triển tại làng Hữu Thanh Oai, Hà Nội "Đoàn Triển ([[1854]] - [[1919]]) hiệu Mai Viên, quê làng Hữu Thanh Oai, Hà Nội, đậu cử nhân, làm quan đến hàm Hiệp biện đại học sĩ, có trước tác"</ref>
== Hoàn cảnh lịch sử ==
*Trần Tế Xương sinh ra vào ngày 5 - /9 - /[[1870]] (tức 10 - /8 ALÂL) tại số nhà 247 phố Hàng Nâu thành phố [[Nam Định]] với tên húy là Trần Duy Uyên. Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, đổi thành họ Trần là bởi vào đời [[Nhà Trần]] lập công lớn được [[phong quốc tính]] (vua cho đổi theo họ nhà vua). Ông nội Trần Tế Xương tên là Trần Duy Năng. Thân sinh của Trần Tế Xương là cụ Trần Duy Nhuận cũng là một nhà nho, thi nhiều khoa không đậu, sau làm Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định, sinh được 9 người con, 6 trai, 3 gái, Tú Xương là [[con trưởng]]. Trong tất cả các tài liệu nói về Tú Xương đều không thấy có ảnh, nhưng dáng hình cụ Tú được người bạn học là hạc phong Lương Ngọc Tùng viết trong bài thơ "Nhớ rõ hình dung..."
:::Cùng làng, cùng phố, học cùng trường
:::Nhớ rõ hình dung cụ Tú Xương,
:::Mấy chục năm trời đà vắng bóng,
:::Nghìn năm còn rạng dấu thư hương.<ref>Bài này được [[Trần Lê Văn]] đăng trong (Tú Xương:"Khi cười khi khóc khi than thở"). NXB Lao động, 2000</ref>
*Ông đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng thông minh. Hồi mới lên 10 tuổi, nhà có khách đến chơi, thấy trước nhà có một dãy chậu hoa, khách bèn ra cho bé Uyên một câu đối: "Đình tiền ngũ sắc hoa" (trước sân có hoa năm sắc), Uyên liền chỉ vào lồng chim khướu treo ở hiên và đối: "Lung trung bách thanh điểu" (trong lồng có chim trăm tiếng). Khách nghe đối tấm tắc khen nhưng lại thở dài "đời thằng bé lại luẩn quẩn như chim nhốt trong lồng ". Ông học chữ Hán cụ kép làng Thành Thị, tên là Trần Chấn Thái, ngồi bảo học ở thànhThành Nam.
*Cuộc đời ngắn ngủi có 37 năm của ông đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước. Trước lúc ông ra đời 3 năm thì 6 tỉnh nam kỳ mất trọn cho Pháp. Tú Xương lên 3 thì [[Bắc Kỳ]] trong đó có [[Nam Định]] bị tấn công lần thứ nhất. Tú Xương 12 tuổi, Bắc Kỳ, Nam Định bị tấn công lần thứ 2 và mất nốt. [[Hòa ước Quý Mùi, 1883|Hiệp ước Harmand 1883]] rồi [[hòa ước Giáp Thân (1884)|hiệp ước Patenôtre 1884]] thừa nhận quyền thống trị của Pháp trên đất Việt Nam. các phong trào kháng chiến chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng lần lượt thất bại. Tú Xương sinh ra và lớn lên trong bối cảnh sục sôi và bi thương đó.
*Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn.
*Ông đi thi từ lúc 17 tuổi, đó là khoa Bính Tuất ([[1886]]). Các tài liệu khác chép nhầm là khoa Ất Dậu ([[1885]]).<ref>Vì ba năm thi một lần nên nhiều tài liệu chép nhầm là khoa Ất Dậu (1885). Thực ra, năm ấy xảy ra sự biến Tôn Thất Thuyết đánh úp quân Pháp ở Huế rồi bị thất bại, vì thế khoa thi năm ấy bị bãi không tổ chức được. Vua Đồng Khánh lên ngôi, năm sau (1886) mới mở tiếp, gọi là ân khoa</ref>
 
==Cuộc sống sự nghiệp==
''Rượu chè trai gái đủ tam khoanh''
 
''Thế mà cứ nghĩ rằng ta giỏi,''
 
''Cứ việc ăn chơi chẳng học hành''
''Tế đổi làm cao mà chó thế,''
 
''Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi !''
 
Xã hội bấy giờ, cái bằng tú tài thuộc loại dang dở dở dang (tú tài không được thi Hội, cử nhân mới được thi, tú tài không được bổ quan, cử nhân mới được bổ). Cho nên đậu tú tài, muốn đậu cử nhân phải đợi 3 năm sau thi lại.
*Cuộc sống của ông về vật chất rất thiếu thốn. Đúng năm ông đậu tú tài ([[1894]]) thì ngôi nhà số 247 phố Hàng Nâu (nay là phố Minh Khai) bị cháy. Cụ Nhuận làm lại xây bằng gạch ''Ông tu tác cửa cao nhà rộng, toan để cho dâu -'', câu thơ đó là Tú Xương nhắc đến sự kiện này, - nhưng rồi ngôi nhà đó lại bị bà Hai An chiếm đoạt. Tú Xương đã phải than: ''Nhà cửa giao canh nợ phải bồi''. Nghèo đói đã cứa xé Tú Xương. Sự đểu cáng đã vả vào Tú Xương. Hoàn cảnh đó được in đậm trong thơ phú của Tú Xương sự vất vả, cay cú, phát phẫn, buồn phiền.
 
==Gia đình==
 
==Về văn bản tác phẩm==
Tình hình văn bản tác phẩm của Tú Xương hết sức phức tạp. Không có di cảo. Không có những công trình đáng tin cậy tập hợp tác phẩm khi tác giả còn sống hoặc vừa nằm xuống. Sinh thời, nhà thơ sáng tác dường như chỉ để tiêu sầu hoặc mua vui, thơ làm đọc lên cho vợ con, bạn bè nghe, rồi tùy ý truyền khẩu. [[Nam Định|Thành Nam]] thuở ấy còn có nhiều người hay thơ và thơ hay, cùng nỗi niềm và khuynh hướng với Tú Xương như [[Trần Tích Phiên]], [[Phạm Ứng Thuần]], [[Trần Tử Chi]], [[Vũ Công Tự]]... Thơ họ cũng được phổ biến không ít. Lại 3 năm một lần [[thi Hương|thi hương]], sĩ tử cả [[Bắc Kỳ]] tụ hội về đây, thơ hay được lan truyền càng rộng rãi. Vì thế thơ Tú Xương càng dễ bị lẫn lộn.
 
Lúc đầu chỉ là các bài sưu tầm đăng giải rắc trên [[nam Phong tạp chí|tạp chí Nam Phong]] (các năm [[1918]], [[1919]], [[1920]], [[1926]]). Tiếp đến sách "Văn đàn bảo gián (quyển 3)" của Trần Trung Viên, Nam Ký thư quán Hà Nội [[1926]], giới thiệu 79 tác phẩm, trong đó phần lớn đã được đăng ở Nam Phong. Từ đó,lần lượt xuất hiện những sách chuyên đề về Tú Xương. Có 2hai văn bản chữ nômNôm hiện còn lưu giữ ở thư viện Hán - Nôm đó là ''Vị thành giai cú tập biên'' (ký hiệu AB.194) ghi rõ "Nam Định Vị Xuyên tú tài Phượng Tường Trần Cao Xương Tử Thịnh trước tập" và ''Quốc văn tùy ký'' (ký hiệu AB.383). Có 10 lần xuất bản bằng chữ quốc ngữ với những văn bản sau:
*(1) ''Vị Xuyên thi văn tập'' của Sở Cuồng (tức [[Lê Dư]]), Nam Kỳ thư quán ([[1931]] (- sau có tái bản), giới thiệu 174 tác phẩm gồm thơ, phú, câu đối. Mà sau này các sách khác thừa hưởng kết quả. Nhưng chép nhầm tên ông là Trần Kế Xương.
*(2) ''Trông dòng sông Vị'' (Văn chương và thân thế Trần Tế Xương) của [[Trần Thanh Mại]];, Trần Thanh Địch ([[1935]] - lần thứ nhất) ở [[Huế]], sau tái bản nhiều lần.
*(3) ''Tú Xương thi tập,'' do nhà sách Phúc Chí, - 95 Hàng Bồ, Hà Nội ([[1950]],) - giới thiệu 75 bài thơ phú.
*(4) ''Thân thế và thơ văn Tú Xương'' của Vũ Đăng Văn, Nhà- nhà xuất bản Cây Thông, Hà Nội (1951). Đính chính tên nhà thơ là Trần Tế Xương (không phải Kế) và giới thiệu 181 tác phẩm.
 
Những sách này là từ trước [[1954]], sưu tầm thơ Tú Xương còn hết sức tùy tiện và hầu như không có chú giải cần thiết. Việc khảo cứu về nhà thơ cũng chưa được đặt ra, nếu không kể đến cuốn ''Trông dòng sông Vị''.
*(5) ''Văn thơ Trần Tế Xương'' Nhà- nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội ([[1957]]). Giới thiệu chính thức 125 bài và đưa 55 bài vào phần tồn nghi.
*(6) ''Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương, -'' nhà xuất bản Nghiên cứu cục xuất bản, Bộ văn hóa Hà Nội ([[1957]]) của [[Trần Thanh Mại]] nhân dịp lần thứ 50 ngày giỗ Tú Xương.
*(7) ''Tú Xương con người và nhà thơ'' của [[Trần Thanh Mại]], Trần Tuấn Lộ, - nhà xuất bản Văn hóa ([[1961]]). Giới thiệu 193 bài chính thức, 17 bài tồn nghi.
*(8) ''Thơ Trần Tế Xương,'' - Ty văn hóa [[Nam Hà]], ([[1970]]). Bài tiểu luận của [[Xuân Diệu]] in lần đầu tiên ở đây, có nhiều phát hiện lý thú. Còn tác phẩm chỉ tuyển chọn chẵn 100 bài., Nhânnhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ.
*(9) ''Thơ văn Trần Tế Xương,'' - nhà xuất bản Văn học, ([[1970]]) - có sự tham gia của [[Nguyễn Công Hoan]] chọn 151 tác phẩm và 22 bài tồn nghi.
*(10) ''Thơ văn Trần Tế Xương,'' - [[Nhà xuất bản Giáo Dục|nhà xuất bản Giáo dục]], Hà Nội ([[1984]]). Cuốn này sao gần như hoàn toàn cuốn (9).
*Chỉ có cuốn '''Tú Xương tác phẩm giai thoại''' của nhóm Nguyễn Văn Huyền (chủ biên), Đỗ Huy Vinh, Mai Anh Tuấn và người giới thiệu - giáo sư: Nguyễn Đình Chú, - Hội văn học nghệ thuật [[Hà Nam Ninh]] - ([[1986]]) là một công trình nghiên cứu kỹ lưỡng và công phu. Loại ra các tác phẩm không phải của tác giả, so sánh, đối chiếu các bản đã in ở những lần xuất bản trước, chọn ra 134 bài là của Tú Xương và loại ra 68 bài (có chú dẫn nguyên nhân loại ra cho từng bài một). Bài viết này lấy tư liệu chủ yếu ở cuốn sách đó.
*Sau này nhất là thời mở cửa việc xuất bản tràn lan không được kiểm định kỹ đã lấy tư liệu ở các nguồn khác nhau kể trên, điều đó cũng giải thích tại sao các Blogblog lại đưa ra các tư liệu khác nhau về Tú Xương.
 
==Về đánh giá tác phẩm ==
[[Tập tin:Mộ Trần Tế Xương.JPG|nhỏ|phải|250px|Mộ Trần Tế Xương tại thành phố Nam Định (gần tượng đài [[Trần Quốc Tuấn]])]]
Nói đến tài làm thơ của Tú Xương, nhiều người đã đặc biệt chú ý đến sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình, trong đó trữ tình là gốc. Với Tú Xương, vẫn chưa thấy chắc chắn có bài thơ chữ Hán nào, chỉ thấy thơ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển: [[thơ Đường|thơ luật Đường]]: - [[thất ngôn bát cú]], [[tứ tuyệt]]; [[phú]]; [[văn tế]]; [[câu đối]]; [[hát nói]]; [[thơ#Lục bát|lục bát]]. Ở thể loại nào Tú Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy.
*[[Nguyễn Công Hoan]] suy tôn Tú Xương là bậc ''thần thơ thánh chữ.''
*[[Xuân Diệu]] xếp hạng Tú Xương thứ 5 sau [[Nguyễn Trãi]], [[Nguyễn Du]], [[Hồ Xuân Hương]] và [[Đoàn Thị Điểm]].
*[[Tản Đà]] khi còn sống "trong những thi sĩ tiền bối, phục nhất Tú Xương" (Xuân Diệu kể vậy). [[Tản Đà]] tự nhận trong đời thơ của mình "mới địch nổi Tú Xương một lần thôi bằng chữ "vèo" trong bài thơ ''Cảm thu'', ''Tiễn thu'' của ông: ''Vèo trông lá rụng đầy sân''. Nguyễn côngCông Hoan cũng kể vậy.
*[[Nguyễn Tuân]] biểu dương Tú Xương là: ''một người thơ, một nhà thơ vốn nhiều công đức trong cuộc trường kỳ xây dựng tiếng nói văn học của dân tộc Việt Nam.''
*Với Tú Xương, còn là hiện tượng hiếm trong lịch sử tác gia Việt Nam: Tú Xương "môn Pháiphái", "môn đệ". Tên của ông là Trần Tế Xương., lúc đổi thành Trần Cao Xương., Nhưngnhưng đây là chữ ''xương'' với nghĩa "thịnh vượng" (còn có nghĩa là đẹp, thẳng). Sách xưa có chữ "Đức giả xương" (người có đức, thịnh vậy)., Khôngkhông phải là ''xương'' theo nghĩa "xương thịt". Nhưng người đời sau, mấy vị chuyên làm thơ trào phúng đã cố tình đùa nghịch và "xuyên tạc", gắn cho cái nghĩa xương thịt, để rồi tự nguyện suy tôn Tú Xương (thịt) lên bậc tổ sư, còn mình là môn đệ. Và như thế là lịch sử văn học Việt Nam ở thế kỷ 20 bỗng nhiên có một "môn phái" gồm Tú Xương, rồi Tú Mỡ, Tú Sụn, Cử Nạc và thêm "chi phái": Tú Poanh, Đồ Phồn cũng là dòng tú, cử, đồ với nhau cả. Vinh dự thay cho vị tổ sư Tú Xương!
 
Bức tranh hiện thực trong thơ Tú Xương là một bức tranh xám xịt, dường như chỉ có rác rưởi, đau buồn, vì hiện thực của xã hội thực dân - nửa phong kiến là như vậy! Cảm hứng trong thơ Tú Xương hầu như không hướng nhiều về phía phản ánh những cái tốt lành, những cái thuộc về sức sống, về bản lĩnh của dân tộc, của nhân dân, dù có bị ẩn kín xuống nhưng vẫn không bao giờ mai một trong hoàn cảnh lịch sử tang tóc đó. Thi sĩ Tú Xương biết buồn đau trước vận nước vận dân. Với giọng văn châm biếm sâu cay, thơ văn của ông đã đả kích bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại làm tay sai cho giặc, bọn bán rẻ lương tâm chạy theo tiền bạc, bọn rởm đời lố lăng trong buổi giao thời.
:::''Lọng cắm rợp trời, quan Sứ đến,''
:::''Váy lê quét đất, mụ đầm ra.'' <ref>Vợ chồng toàn quyền Doumer và công sứ đến dự (hai câu này Tú Xương tả chúng đến chúng ra như choán hết cả trời đất nước Nam)</ref>
:::''Nhân tài đất Bắc nào ai đó ?''
:::''Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà !''
 
'''Giễu người thi đỗ'''
:::''Một đàn thằng hỏng đứng mà trông,''
:::''Nó đỗ khoa này có sướng không?'' <ref>Tức là khoa Đinh Dậu (1897)</ref>
:::''Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,''
:::''Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng !'' <ref>Mụ đầm bệ vệ ngồi trên, nhấp nhổm, ngọ nguậy bộ mông, còn các cử nhân tân khoa thì quỳ lạy ở dưới, nghểnh cổ trông lên</ref>
 
Tính trào phúng được đẩy lên mức cao khi Tú Xương vừa phản ánh cái hiện thực vừa như trả đũa lũ quan lại nhũng nhiễu bằng cách giúi đầy phân vào miệng chúng như bài:
 
'''Ông cò'''
:::''Hà Nam danh giá nhất ông cò,'' <ref>Ông cò hay cẩm, viên chức Pháp đứng đầu lực lượng cảnh sát trong một thành phố đều do chữ "commissaire" đọc chệch ra</ref>
:::''Trông thấy ai ai chẳng dám ho.''
:::''Hai mái trống toang đành chịu giột,'' <ref>Vì muốn lợp lại, phải làm đơn xin phép, nộp lệ phí rất phiền hà</ref>
:::''Tám giờ chuông đánh phải nằm co.'' <ref>Câu này ý nói: từ 8 giờ tối, thiết quân luật, không ai được ra đường</ref>
:::''Người quên mất thẻ âu trời cãi,'' <ref>''Thẻ'' là giấy chứng nhận nộp thuế và là giấy thông hành, ai ra ngoài quên không mang sẽ bị phạt khá nặng</ref>
:::''Chó chạy ra đường có chủ lo.'' <ref>Nhà nào ở phố có chó để chạy ra đường cũng bị phạt</ref>
:::''Ngớ ngẩn đi xia may vớ được,'' <ref>''Đi xia'': đi đại tiện. Thời ấy thành phố không có nhà vệ sinh công cộng. Nhưng nếu cảnh sát bắt được ai đi ngoài thì người đó bị phạt nặng</ref>
:::''Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to.''
 
Đặc biệt bài thơ có một sức khái quát lớn về cả lũ quan lại và văng một tiếng chửi vào [[Hoàng Cao Khải]], tên đại Việt gian cho Pháp thời đó:
 
'''Phường nhơ''' <ref>Lũ nhơ bẩn, bọn gắp phân. Trước đây người ta thường phóng uế bừa bãi ở bờ ruộng, ven đường. Những người nghèo túng, đi gắp phân về bón ruộng hoặc bán lấy tiền. Xã hội cũng thường khinh rẻ họ. Ở đây tú Xương đặc tả họ nhằm ngụ ý đả kích bọn quan lại bấy giờ</ref>
:::''Bấy lâu chơi với rặt phường nhơ,'' <ref>Vũ Tuân đương cậy cục [[Hoàng Cao Khải]] để được bổ làm quan. Tú Xương làm và đọc khi Vũ Tuân đến chơi và đòi nghe thơ</ref>
:::''Quen mắt ưa nhìn chả biết dơ.''
:::''Nào sọt, nào quang, nào bộ gắp, <ref>Các dụng cụ của người lấy phân</ref>''
:::''Đứa bưng đứa hót đứa đang chờ. <ref>Tả các động tác lấy phân nhưng có ý ám chỉ bọn quan lại bưng lễ, hót tiền của dân. ''Đang chờ'' chờ người ta đi song để lấy phân, đây ám chỉ những kẻ chờ được bổ quan</ref>''
:::''Mình hôi mũi ngạt không kỳ quản,''
:::''Áo ấm cơm no vẫn nhởn nhơ.''
:::''Ngán nỗi hàng phường khi cúng tế,''
:::''Vẽ ông ôm đít để lên thờ.'' <ref>''ôm đít'' động tác đi đại tiện. Có thể hiểu là ôm đít Tây (Pháp), hầu hạ làm tay sai cho Tây. Về hai câu kết, nhà thơ thuật lại với bạn là Trần Tích Phiên rằng, khi đó ông nghĩ đến [[Hoàng Cao Khải]], đang bắt dân thờ làm [[thành hoàng]] sống [[làng Thái Hà]], [[Hà Nội]]</ref>
*Đề tài người vợ trong thơ của Tú Xương cũng rất được quan tâm và đón nhận. Cuộc đời ông chỉ sống được có 37 năm, nhưng học hành thi cử đến 8 lần mới đỗ Tú Tài, mọi việc ở nhà đều là một tay của bà Tú gánh vác. Chính vì vậy, Tú Xương rất trân trọng vợ mình, ông viết về vợ như một sự tri ân.
 
*Đề tài người vợ trong thơ của Tú Xương cũng rất được quan tâm và đón nhận. Cuộc đời ông chỉ sống được có 37 năm, nhưng học hành thi cử đến 8 lần mới đỗ Tú Tài, mọi việc ở nhà đều là một tay của bà Tú gánh vác. Chính vì vậy, Tú Xương rất trân trọng vợ mình, ông viết về vợ như một sự tri ân.
 
'''Thương vợ'''
:::''Thế mà:''
:::''Mình bỏ mình đi, mình không chịu ở''
:::''Chẳng nói chẳng rằng, không than không thở.''
:::''Hay mình thấy tớ: nay Hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng mình ghen?''
:::''Hay mình thấy tớ: sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai, mà lòng mình sợ?''
:::''Mình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển, Bồng Hồ''
:::''Tớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ''
*Trần Tế Xương là cây Đại bút, chữ nghĩa giản dị nhưng điêu luyện, thần tình, đôi khi tục nhưng không thô, phá cách nhưng đầy dụng ý, không chút non nớt tầm thường đúng như Xuân Diệu viết về ông:
 
::::::::::::'''Ông nghè ông thám vô mây khói'''
*Trần Tế Xương là cây Đại bút, chữ nghĩa giản dị nhưng điêu luyện, thần tình, đôi khi tục nhưng không thô, phá cách nhưng đầy dụng ý, không chút non nớt tầm thường đúng như Xuân Diệu viết về ông:
::::::::::::'''Đứng lại văn chương một tú tài'''
::::::::::::'''Ông nghè ông thám vô mây khói'''
::::::::::::'''Đứng lại văn chương một tú tài'''
 
==Chú thích==
Người dùng vô danh