Khác biệt giữa các bản “Tuồng”

n
clean up, replaced: hế kỷ 17 → hế kỷ XVII, hế kỷ 19 → hế kỷ XIX (2), hế kỉ 20 → hế kỷ XX, hế kỷ 20 → hế kỷ XX (3) using AWB
(→‎Đề tài: sửa chính tả)
n (clean up, replaced: hế kỷ 17 → hế kỷ XVII, hế kỷ 19 → hế kỷ XIX (2), hế kỉ 20 → hế kỷ XX, hế kỷ 20 → hế kỷ XX (3) using AWB)
" ''Bỏ cửa bỏ nhà vì ma hát Bội''"
 
Sang [[thế kỷ 20XX]] với sự ra đời của [[cải lương]] và [[kịch nói]] thu hút nhiều khán giả, nghệ thuật tuồng suy yếu nhiều tuy có cố gắng phục hưng với loại ''tuồng xuân nữ'', tức là tuồng diễn theo đề tài xã hội tân thời và hát theo điệu "xuân nữ". Loại tuồng này pha phong cách [[cải lương]], đánh võ Tàu... Dù vậy giới hâm mộ tuồng càng ngày càng ít.<ref name="b">Theo Hoàng Chương, "Tóm tắt về hành trình sân khấu Việt Nam" in trong ''Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-1995'', Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, [[Hà Nội]], 1989.</ref>.[[Tập tin:Tuồng.jpeg|nhỏ|347x347px|Trích Đoạn Ôn Đình chém Tá trong vở tuồng cổ điển Sơn Hậu]]Ở [[Hà Nội]] vào đầu [[thế kỷ 20XX]] có một rạp hát riêng diễn tuồng hát bội, gọi là rạp Quảng Lạc. Lối diễn thì giống như lối tuồng miền Trung cả.<ref name="Hà"/>
 
Tới những năm khi Chính phủ [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa|VNDCCH]] thành lập, ban đầu Tuồng bị coi là tàn dư phong kiến, nhưng sau đó đã được đánh giá nghiêm túc và được chính Chủ tịch [[Hồ Chí Minh]] xem và khen ngợi, Tuồng trở thành loại hình sân khấu được công nhận là đặc sắc và được phát triển, với sự tập hợp các nghệ nhân Bắc, Trung, Nam, thành lập các đoàn hát và mở lớp truyền thụ, xuất hiện hàng loạt nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ tiếp tục kế thừa và sáng tạo vốn quý của nghệ thuật Việt Nam, là một trong những loại hình sân khấu chủ yếu của Việt Nam suốt thế kỉkỷ 20XX, được công chúng yêu thích.
 
Tuy nhiên, cũng như nhiều loại hình nghệ thuật cổ truyền khác của Việt Nam, bước vào thời kì hội nhập, từ những năm cuối thế kỉ XX, Tuồng đang mất dần vị thế và khán giả, thiếu hụt nhân lực và có nguy cơ mai một.
Ngôn ngữ ca ngâm thì dùng giọng thật to, thật cao và rõ. Điệu hát quan trọng nhất trong hát bội là "nói lối", tức là nói một lúc rồi hát, thường để mở đầu cho các khúc hát khác. "Nói lối" có hai giọng chính là "Xuân" và "Ai". "Xuân" là giọng hát vui tươi, còn "Ai" là bi thương, ảo não. Nói lối giọng Ai còn được gọi là "lối rịn". Ngoài ra còn có những "lối hằng", "lối hường", "lối giậm".
 
Các điệu
 
'''Khách:''' khách thường, Phú lục, xướng, Ngâm, Tẩu Mã,
 
'''Nam''': Nam ai, Nam xuân,
 
Nói lối, Hường, Tán,
Mâu thuẫn xã hội biểu hiện trong loại Tuồng này là mâu thuẫn phong kiến nội địa, không có ngoại xâm. Ngoại xâm nếu có cũng chỉ là chi tiết phụ và thông thường, chỉ là cái cớ để đưa tình tiết kịch phát triển mà thôi.
 
[[Hình:Hatboie9.jpg|nhỏ|300x300px|phải|Hai diễn viên hát bội vào đầu thế kỷ 20XX]]Về '''<u>cấu trúc kịch bản</u>''': Kịch bản loại tuồng này đều xây dựng theo dòng kịch tự sự phương Đông. Câu chuyện được trình bày có đầu có đuôi và theo trật tự thời gian phát triển của nó. Về mặt này nó giống như những câu chuyện cổ tích dân gian. Kịch bản được viết dưới dạng là kể một câu chuyện đã xảy ra (chứ không phải dưới dạng câu chuyện đương xảy ra). Như vậy, về mặt này nó tương ứng với loại tiểu thuyết chương hồi thời cổ.
 
Tuy vậy, loại kịch bản này chứa đựng tính xung đột rất cao. Từ xung đột giữa phe phái đối lập đi đến xung đột giữa những tính cách; xung đột nội tại của tính cách nhiều trường hợp hết sức gay gắt.
 
*Triệu Đình Long cứu Chúa
*''Tam nữ đồ vương'' ([[thế kỷ 17XVII]])
Với các trích đoạn hay như Lão Tạ lăn lửa, Phương Cơ giả điên qua ải,
* Trảm Trịnh Ân (Bây giờ thường gọi là Đào Tam Xuân)
Với các trích đoạn hay Đào Tam Xuân đề cờ, Cao Hoài Đức rọi đèn,
*''Diễn Võ Đình'' (soạn giả: [[Đào Tấn]], [[thế kỷ 19XIX]])
*''Ngoại tổ dâng đầu'' (soạn giả: [[Nguyễn Hiển Dĩnh]], thế kỷ 19XIX).<ref name="a" />
*Trầm Hương các ([[Đào Tấn]])
Với trích đoạn Hồ ly đoạt hồn, thường bị nhiều đoàn hát tránh diễn vì sợ ma quỷ