Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Liên kết pi”

Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Không có tóm lược sửa đổi
Không có tóm lược sửa đổi
Dòng 1:
{{unreferenced}}
[[Tập tin:Pi-bond.jpg|nhỏ|trái|Hai orbital p tạo một liên kết π]]
Trong [[hóa học]], '''liên kết pi''' (hay '''liên kết π''') là [[liên kết cộng hóa trị]] được tạo nên khi hai [[thùy]] của một [[obitan nguyên tử]] tham gia xen phủ với hai thùy của electron orbital khác tham gia liên kết (sự xen phủ như thế này được gọi là sự [[xen phủ bên]] của các orbital). Chỉ một trong những [[mặt phẳng nút]] của orbital đi qua cả hai [[hạt nhân nguyên tử|hạt nhân]] tham gia liên kết.
 
Ký tự Hy Lạp '''π''' trong tên của liên kết này ám chỉ các orbital p, vì sự đối xứng orbital trong các liên kết pi cũng là sự [[đối xứng]] của các orbital khi xét dọc theo trục liên kết. Các orbital p thường tham gia vào loại liên kết này. Tuy nhiên, các orbital d cũng có thể thựctham hiệngia vào liên kết ppi, tạo nên nền tảng cho [[liên kết năm|Liên kết bội kim loại]].
 
Các liên kết pi thường yếu hơn các [[liên kết sigma]] do sự phân bố [[electron]] (mang điện âm) tập trung ở xa [[hạt nhân nguyên tử|hạt nhân]] nguyên tử (tích điện dương), việc này đòi hỏi nhiều năng lượng hơn. [[Liên kết đôi]] [[Liên kết cacbon|C-C]], bao gồm một liên kết sigma và một liên kết pi.<ref>{{Cite book|url=https://www.worldcat.org/oclc/24501305|title=Introduction to organic chemistry.|last=Streitwieser|first=Andrew|last2=Heathcock|first2=Clayton H.|last3=Kosower|first3=Edward M.|date=|publisher=Macmillan|others=Heathcock, Clayton H., Kosower, Edward M.|year=1992|isbn=0024181706|edition=4th|location=New York|pages=250|oclc=24501305}}</ref> có năng lượng liên kết bằng một nửa liên kết đơn C-C, cho thấy tính ổn định do một liên kết pi thêm vào yếu hơn tính ổn định của một liên kết sigma. Từ góc nhìn của [[cơ học lượng tử]], tính chất yếu của liên kết này có thể được giải thích bằng sự xen phủ với một mức độ ít hơn giữa các orbital-p bởi định hướng [[song song]] của chúng. Trái ngược với liên kết sigma, hình thành liên kết ngay tại hạt nhân nguyên tử dẫn đến độ xen phủ lớn hơn.
 
[[Tập tin:Electron orbitals.svg|phải|nhỏ|350px|Các orbital electron nguyên tử và phân tử, với một liên kết pi ở góc phải phía dưới của hình]]
Mặc dù bản thân liên kết pi yếu hơn một liên kết sigma, song liên kết pi là thành phần cấu tạo nên các liên kết bội, cùng với liên kết sigma. Sự kết hợp giữa liên kết pi và sigma mạnh hơn bất kì bản thân một liên kết nào trong hai liên kết ấy. Sức mạnh được gia tăng của một liên kết bội khi đem so với một liên kết đơn (liên kết sigma) có thể được biểu thị bằng nhiều cách, nhưng rõ rệt nhất là bởi sự co độ dài của các liên kết. Ví dụ: trong [[hóa hữu cơ|hóa học hữu cơ]], độ dài của liên kết carbon-carbon của [[ethane]] là 154 [[pm]], [[êtilen|ethylene]] là 133 pm và [[acetylene]] là 120 pm.
 
Ngoài một liên kết sigma, một đôi nguyên tử liên kết qua [[liên kết đôi]] và [[liên kết ba]] lần lượt có một hoặc hai liên kết pi. Các liên kết pi là kết quả của sự xen phủ các orbital nguyên tử với hai vùng xen phủ. Các liên kết pi thường là những liên kết trải dài trong không gian hơn các liên kết sigma. Các electron trong các liên kết pi thường được gọi là các electron pi. Các mảng phân tử liên kết bởi một liên kết pi không thể xoay quanh liên kết của chúng mà không làm gãy liên kết pi ấy, do việc làm này phá hủy định hướng song song của các orbital p cấu thành.
Hàng 17 ⟶ 15:
 
 
LiênMặc dù bản thân liên kết pi yếu hơn một liên kết sigma, nhưngsong liên kết pi là thành phần cấu tạo nên các liên kết bội, cùng với liên kết sigma. Sự kết hợp lạigiữa thìliên kết pi và sigma mạnh hơn từngbất kì bản thân một liên kết đơnnào trong hai liên kết ấy. Sức mạnh được gia tăng của một liên kết bội khi đem so với một một liên kết đơn (liên kết sigma) có thể được chỉbiểu rathị theobằng nhiều cách, nhưng rõ ràngrệt nhất là trongbởi sự co độ ngắndài của độ dàicác liên kết. Ví dụ, trong hóa học hữu cơ, [[độ dài liên kết]] cacbon–cacbon vào khoảng 154&nbsp;[[picometre|pm]] trong [[etan]],<ref>{{cite journal |journal= Theoretica chimica acta |year= 1970 |volume= 18 |issue= 1 |pages= 21–33 |title= Relaxation during internal rotation ethane and hydrogen peroxyde |first1= A. |last1= Veillard |doi= 10.1007/BF00533694 }}</ref><ref>{{cite journal |title= The equilibrium carbon–carbon single‐bond length in ethane |first1= Marlin D. |last1= Harmony |journal= J. Chem. Phys. |volume= 93 |pages= 7522–7523 |year= 1990 |doi= 10.1063/1.459380 |bibcode= 1990JChPh..93.7522H }}</ref> 134&nbsp;pm trong etylen và 120&nbsp;pm trong axetilen. Có nhiều liên kết khiến cho toàn bộ liên kết ngắn hơn và mạnh hơn.
 
{|align="center" class="wikitable"