Khác biệt giữa các bản “Virus học”

AlphamaEditor, Executed time: 00:00:06.8662485 using AWB
(AlphamaEditor, Executed time: 00:00:06.8662485 using AWB)
 
==Cấu trúc và phân loại virus==
Một ngành chính của virus học là phân loại virus. Virus có thể được phân loại theo các tế bào chủ mà chúng lây nhiễm: virus động vật, virus thực vật, virus nấm bệnh và bacteriophages (virus lây nhiễm vi khuẩn, trong đó bao gồm các virus phức tạp nhất). Một phân loại khác sử dụng hình dạng hình học của capsid của chúng (thường là một helix hoặc một icosahedron) hoặc cấu trúc của virut (ví dụ như sự có hoặc không có bìa lipid). Các virus có kích thước từ khoảng 30nm30 nm đến khoảng 450nm450 nm, có nghĩa là hầu hết chúng không thể nhìn thấy bằng [[kính hiển vi quang học]]. Hình dạng và cấu trúc của virut đã được nghiên cứu bằng [[kính hiển vi điện tử]], [[quang phổ NMR]], và [[tinh thể học tia X]].
 
Hệ thống phân loại hữu ích nhất và được sử dụng rộng rãi nhất phân biệt virus theo loại [[axit nucleic]] mà chúng sử dụng làm vật chất di truyền và phương pháp nhân bản virus mà chúng sử dụng để gắn các tế bào chủ để tạo ra nhiều virus hơn:
* Virus phiên mã ngược.
 
Báo cáo mới nhất của Uỷ ban Quốc tế về Phân loại Virus (2018) có virus được chia thành 9 bộ, 124 họ, 736 chi và khoảng 4404 loài, 4772 loại.<ref name="isbn0123846846">{{chú thích sách |tác giả=King AMQ, Lefkowitz E, Adams MJ, Carstens EB|tiêu đề=Virus Taxonomy: Ninth Report of the International Committee on Taxonomy of Viruses|nhà xuất bản=Elsevier|năm=2011|trang=6 |isbn=0-12-384684-6}}</ref><ref>{{chú thích web| url =https://talk.ictvonline.org/taxonomy/vmr/m/vmr-file-repository/7096 | tiêu đề =Virus Metadata Repository: version Januaryngày 29, tháng 1 năm 2018
| ngày truy cập = ngày 4 tháng 2 năm 2018 | năm =2018| work =ICTV Master Species List (MSL) | nhà xuất bản =Ủy ban Quốc tế về Phân loại Virus}}</ref>
 
Các nhà nghiên cứu virus học cũng nghiên cứu các vi hạt nhỏ hơn và đơn giản hơn các loại virus như: satellites ,[[Viroid và Prion|viroid]] và [[thể đạm độc]].
 
[[Đơn vị phân loại]] trong virus học không nhất thiết phải là [[đơn ngành]], vì mối quan hệ tiến hóa của các nhóm virus khác nhau vẫn chưa rõ ràng. Có ba giả thuyết về nguồn gốc của chúng:
Mỗi bệnh do virus gây ra có một [[nghịch lý]]: giết chết chủ của nó rõ ràng là không có lợi cho virus, vì vậy làm thế nào và tại sao nó đã phát triển để làm như vậy? Ngày nay, người ta tin rằng hầu hết các virus đều tương đối ôn hòa trong cơ thể tự nhiên của chúng; một số virus nhiễm thậm chí có thể có lợi cho vật chủ.<ref name=IntroVirol432>Dimmock NJ, Easton AJ, Leppard K, ''Introduction to Modern Virology'', (Oxford: Blackwell Publishers, 2007), ch 23 "Horizons in human virology", subch 23.3 "Subtle and insidious virus-host interactions", sec "Virus infections can give their host an evolutionary advantage", [https://books.google.com/books?id=E3ntv9XwsFwC&pg=PA432 tr. 432].</ref> Các bệnh dịch chết người này có nguyên nhân từ việc virus vô tình nhảy từ loài mà virus không phát tác sang một loài mới không quen với nó. Ví dụ, virus gây cúm nghiêm trọng ở người có thể có ở [[lợn]] hoặc [[chim]] như là vật chủ tự nhiên của chúng và HIV được cho là xuất phát từ virus SIV lành tính.
 
[[Virus Oncolytic]] là virus có thể gây phá hủy tế bào ung thư. Mặc dù những nỗ lực ban đầu để sử dụng các loại virus này trong điều trị ung thư không thành công, trong năm 2005 và 2006 đã có những báo cáo về những kết quả ban đầu đáng khích lệ.<ref>[http://www.isracast.com/tech_news/260106_tech.aspx Viruses: The new cancer hunters], IsraCast, ngày 1 Marchtháng 3 năm 2006</ref>
 
==Lịch sử ngành virus học==
[[FileTập tin:Adolf Mayer 1875.jpg|thumb|upright|180px|[[Adolf Mayer]] năm 1875]]
[[FileTập tin:Edward Jenner. Oil painting. Wellcome V0023503.jpg|thumb|upright|180px|[[Edward Jenner]]]]
[[FileTập tin:Dmitry_Iosifovich_Ivanovsky.jpg|thumb|upright|180px|[[Dmitri Ivanovsky]]]]
[[FileTập tin:Mwb in lab.JPG|thumb|upright|180px|alt=An old, bespectacled man wearing a suit and sitting at a bench by a large window. The bench is covered with small bottles and test tubes. On the wall behind him is a large old-fashioned clock below frick u which are four small enclosed shelves on which sit many neatly labelled bottles.|[[Martinus Beijerinck]] trong phòng thí nghiệm của ông vào năm 1921.]]
Từ virus xuất hiện năm 1599 và có nghĩa là "nọc độc".<ref>[http://www.merriam-webster.com/dictionary/virus "Virus"], Merriam-Webster, Inc, 2011.</ref>
 
Một dạng vắc xin rất sớm được biết đến như [[variolation]] đã được phát triển ở [[Trung Quốc]] từ khoảng thế kỷ 10 [[TCN]].<ref>{{chú thích web|url=http://www.medicaldaily.com/history-vaccines-variolation-378738 | tiêu đề=A Brief History Of Vaccines: From Medieval Chinese ‘Variolation’ To Modern Vaccination|ngày truy cập=ngày 5 tháng 2 năm 2018|ngày lưu trữ=ngày 21 tháng 3 năm 2016}}</ref> Nó liên quan đến việc áp dụng các tài liệu từ những người bị bệnh đậu mùa để tiêm chủng cho những người khác. Năm 1717, [[Lady Mary Wortley Montagu]] đã quan sát thực tế ở [[Istanbul]] và cố gắng phổ biến nó ở [[Anh]], nhưng gặp phải sự phản kháng đáng kể. Năm 1796, [[Edward Jenner]] đã phát triển một phương pháp an toàn hơn nhiều, sử dụng cowpox (đậu mùa ở động vật) để tiêm chủng thành công cho một cậu bé chống bệnh đậu mùa, và phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi. [[Vắc xin]] chống lại các bệnh do virus khác theo sau, bao gồm cả việc tiêm chủng [[bệnh dại]] thành công của [[Louis Pasteur]] năm 1886. Tuy nhiên, bản chất của virus không rõ ràng đối với các nhà nghiên cứu này.
 
Năm 1892, nhà [[sinh vật học]] [[người Nga]], [[Dmitri Ivanovsky]] đã sử dụng một bộ lọc Chamberland để cố gắng cô lập các [[virus khảm thuốc lá]]. Các thí nghiệm của ông cho thấy chất chiết xuất từ lá cây thuốc lá bị nhiễm bệnh vẫn còn lây nhiễm sau khi lọc. Ivanovsky công bố rằng một tác nhân truyền nhiễm nhỏ hoặc độc tố, có khả năng xuyên qua bộ lọc, có thể được sản xuất bởi một vi khuẩn. <ref name="Collier 3">{{chú thích sách |author1=Sussman, Max |author2=Topley, W. W. C. |author3=Wilson, Graham K. |author4=Collier, L. H. |author5=Balows, Albert |tiêu đề=Topley & Wilson's microbiology and microbial infections |nhà xuất bản=Arnold |location=London |năm=1998 |trang=3 |isbn=0-340-66316-2}}</ref><ref>{{chú thích tạp chí | last = Iwanowski | first = D. | tiêu đề = Über die Mosaikkrankheit der Tabakspflanze | tạp chí = Bulletin Scientifique publié par l'Académie Impériale des Sciences de Saint-Pétersbourg / Nouvelle Serie III | volume = 35 | trang = 67–-70 | location = St. Petersburg | năm = 1892 | ngôn ngữ = Đức, Nga}} Translated into English in Johnson, J., Ed. (1942) ''Phytopathological classics'' (St. Paul, Minnesota: American Phytopathological Society) No. 7, pp. 27–-30.</ref><ref>{{cite journal | last = Iwanowski | first = D. | tiêu đề = Über die Mosaikkrankheit der Tabakspflanze | tạp chí = Zeitschrift für Pflanzenkrankheiten und Pflanzenschutz | volume = 13 | trang= 1–41 | năm = 1903 | ngôn ngữ = Đức| url = https://books.google.com/books?id=iG0oAQAAIAAJ&pg=PR13#v=onepage&q&f=false}}</ref>
 
Năm 1898, [[Martinus Beijerinck]] lặp lại công việc của Ivanovski nhưng nghiên cứu sâu hơn. Ông dùng một loạt thí nghiệm lọc chứng minh rằng bệnh khảm thuốc lá gây ra bởi một tác nhân nhỏ hơn vi khuẩn. Ông gọi đó là [[contagium vivum fluidum]].<ref name=Pennazio>{{chú thích tạp chí |tác giả=Pennazio S |tiêu đề=Genetics and virology: Two interdisciplinary branches of biology |tạp chí=Rivista di Biologia|volume=100 |trang=119–46 |năm=2007 |pmid=17592822 |pmc= |doi= |ấn bản=1}}</ref>