Mở trình đơn chính

Các thay đổi

 
Mặc dù virus cây trồng và vi khuẩn có thể được phát triển tương đối dễ dàng, virus động vật thường đòi hỏi một con vật chủ sống, làm phức tạp việc nghiên cứu của các nhà khoa học. Năm 1931, người ta đã phát hiện ra rằng virus cúm có thể được phát triển trong trứng gà thụ tinh, một phương pháp vẫn còn được sử dụng ngày nay để sản xuất vằc xin. Năm 1937, [[Max Theiler]] quản lý để phát triển virus [[sốt vàng]] trong trứng gà và sản xuất một loại vắc xin từ một chủng virus suy yếu; vắc xin này đã cứu sống hàng triệu người và vẫn đang được sử dụng ngày nay.
 
[[Max Delbrück]] - một nhà nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực [[thể thực khuẩn]] mô tả "chu kỳ sống" cơ bản của một virus vào năm 1937: thay vì "phát triển", một hạt virus được lắp ráp từ các phần cấu thành của nó trong một bước; cuối cùng nó để lại tế bào chủ để lây nhiễm sang các tế bào khác. [[Thí nghiệm Hershey–Chase]] năm 1952 chỉ ra rằng chỉ có DNA và không phải protein vào một tế bào vi khuẩn khi bị nhiễm khuẩn T2. Sự chuyển hóa vi khuẩn bằng
hể thực khuẩn được mô tả lần đầu tiên trong cùng năm.
 
Năm 1949, [[John F. Enders]], [[Thomas Weller]] và [[Frederick Robbins]] báo cáo sự phát triển của [[bệnh bại liệt]] trong các tế bào [[phôi]] người, đó là ví dụ đầu tiên của một loại virus động vật được nuôi cấy ngoài động vật hoặc trứng gà. Công trình này đã hỗ trợ [[Jonas Salk]] tìm ra vắc xin bại liệt do virus bại liệt đã ngừng hoạt động; vắc xin này được cho thấy có hiệu lực vào năm 1955.
 
Loại virus đầu tiên có thể được tinh thể hóa và có thể được làm sáng tỏ chi tiết là virus khảm lá thuốc lá (TMV), loại virus đã được Ivanovski và Beijerink nghiên cứu trước đó. Năm 1935, [[Wendell Stanley]] quan sát được kết tinh của nó dưới kính hiển vi điện tử và cho thấy rằng nó vẫn hoạt động ngay cả sau khi kết tinh. [[Tinh thể học tia X|Các bức ảnh nhiễu xạ tia X]] đã được Bernal và Fankuchen thu thập được năm 1941. Dựa trên những bức ảnh như vậy, [[Rosalind Franklin]] đã đề xuất cấu trúc đầy đủ của virus khảm thuốc lá vào năm 1955. Cũng trong năm 1955, [[Heinz Fraenkel-Conrat]] và [[Robley Williams]] đã cho thấy rằng TMV RNA tinh khiết và protein [[capsid]] của nó có thể tự lắp ráp thành các virion chức năng, cho thấy cơ chế lắp ráp này cũng được sử dụng trong tế bào chủ, như Delbrück đã đề xuất trước đó.
 
Từ những năm 1950 đến 1960, [[Chester M. Southam]], nhà nghiên cứu virus và nghiên cứu ung thư hàng đầu, đã tiêm chích các bệnh nhân ung thư, những người khỏe mạnh và những tù nhân ở [[Ohio Penitentiary]] với các tế bào ung thư HeLa để quan sát xem có thể truyền bệnh ung thư hay không. Ngoài ra, với hy vọng tạo ra một vắc xin phòng ung thư, ông quan sát thấy nếu các đối tượng có thể trở nên miễn nhiễm với ung thư bằng cách phát triển một phản ứng miễn dịch đã có. Thử nghiệm này đã gây nhiều tranh cãi, vì các đối tượng bệnh nhân ung thư không biết rằng họ đang được tiêm các tế bào ung thư.<ref>{{chú thích sách|last1=Skloot|first1=Rebecca|tiêu đề=The Immortal Life of Henrietta Lacks|năm=2010|nhà xuất bản=Broadway Paperbacks|location=New York|trang=128}}</ref>
 
==Tham khảo==