Khác biệt giữa các bản “Hồ Thị Hoa”

Tá Thiên Nhân Hoàng hậu xuất thân từ gia tộc [[họ Hồ]] ở [[Bình An]], tỉnh [[Biên Hòa]], con gái của ông Phúc Quốc công [[Hồ Văn Bôi]], mẹ là Phúc Quốc phu nhân Hoàng thị. Đương thời nguyên danh của bà là '''Hoa''' (華).
 
Năm [[Bính Dần]], Gia Long thứ 5 ([[1806]]), Gia Long và [[Thuận Thiên Cao Hoàng hậu]] tuyển con gái các quan đại thần để làm nguyên phối cho Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Đảm, bà được chọn làm chính thất, tiến vào hầu ở tiềm để .<ref>Tiềm để: phủ đệ của hoàng tử được định kế vị mà chưa lên ngôi</ref>.
 
Bà là người trinh thuận, hiếu kính, được cha mẹ chồng hết mực yêu quý. Hoàng đế ban cho tên hay .<ref>ông ban cho chữ trên là chữ '''Miên''', dưới là chữ '''Quán''' nghĩa là chữ '''Thực''', '''Thực''' là quả. Còn tên cũ của bà trên '''không có chữ''', dưới là chữ '''Thập''' nghĩa là chữ '''Hoa'''.</ref>. Hoàng đế cho rằng tên cũ của bà chỉ là hương thơm làm nghĩa, sao bằng chữ mới có nghĩa là gồm cả quả phúc, tức là '''Thực''' (實).
 
Một năm sau, vào ngày [[16 tháng 6]], bà sinh ra Hoàng tử trưởng là Nguyễn Phúc Miên Tông, rồi 13 ngày sau bị bệnh hậu sản mà mất, khi chỉ mới 17 tuổi. Lăng táng ở núi [[Cư Chính]], huyện [[Hương Thủy]].
Năm thứ 19, mùa đông tháng 10, lại cho xây đền ở xã [[Vạn Xuân]], bờ bên tây sông Hữu hộ thành rồi cho rước linh cữu về đấy.
 
Năm đầu Thiệu Trị ([[1821]]), tháng 3 cùng năm, Hiến Tổ Thiệu Trị đã hỏi bà nội mình là [[Thuận Thiên Cao Hoàng hậu|Nhân Tuyên Thái hoàng thái hậu]] sách phong thêm cho Hoàng tỷ ,<ref>tên gọi mẹ vua khi đã mất, khi còn sống gọi là mẫu</ref>, Thái hoàng thái hậu cho là phải. Lại dụ tờ ý như sau:
 
{{Cquote|''Thuận Đức Thần phi Hồ thị, kính vâng Thế Tổ Cao Hoàng Đế cùng già này đã cẩn thận chọn con gái trưởng của công thần [[Hồ Văn Bôi]] sung làm nguyên phối với Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế. Hồ thị là người nết na, thuần thục, đoan kính hiền lương, được Nhân Hoàng Đế kính trọng yêu mến, lại khéo hầu hạ đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế và già này, được hết đạo hiếu. Cho nên Thế Tổ đặc biệt ban cho mỹ húy<ref>tức chữ Thực (實)</ref>. Nay tích đức để phúc, sinh được cháu trưởng để nối nghiệp lớn, nguồn phúc là đầytừ tứđấy mà có. Nhưng Phi chết sớm, không kịp trông thấy ngày nay, thật thương xót! Nhân Hoàng Đế lòng thương vợ cũ, đã truy phong làm Thần phi, ở ngôi 21 năm mà trong cung vẫn để trống ngôi chính, há chẳng phải là để tưởng nhớ người vợ hiền lương chăng ? Nay các quan có lời tâu nên cùng truy phong Đế và Hậu, rất hợp lòng lão tổ mẫu này. Lại có thể an ủi tấm lòng Nhân Hoàng Đế đối với hiền thế xưa, nay chuẩn cho Hoàng đế cháu ta cùng bá quan biết.''|||Sách văn dâng thụy - Đại Nam liệt truyện}}.
 
Tháng 4, ngày 16 là ngày [[Canh Tý]], dâng tôn thụy là '''Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hòa Đốc Khánh Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân hoàng hậu''' (佐天儷聖端正恭和篤慶慈徽明賢順德仁皇后). Sau đưa thần chủ hợp táng ở [[Lăng Thiệu Trị|Xương Lăng]] (昌陵), lăng bà gọi là ''Hiếu Đông lăng'' (孝東陵), thờ tại điện Sùng Ân cùng Thánh Tổ Nhân Hoàng đế.
 
Cha bà là [[Hồ Văn Bôi]] được truy phong ''Đặc Tiến Tráng Vũ tướng quân Tả quân đô thống phủ Đô Thống'', chức [[Thái bảo]], tước hiệu ''Phúc Quốc công'' (福國公), thụy là ''Trung Dũng'' (忠勇). Hoàng phu nhân nhận tước ''Nhất phẩm Phúc Quốc phu nhân'' (一品福國夫人), thụy là ''Ý Thuận'' (懿順)., Dựngdựng đền thờ riêng ở xã Xuân Hòa, [[Hương Trà]], lại cho dựng từ đường riêng ở quê nhà, đều gọi là ''Hồ tộc từ đường'' (胡族祠堂).
 
==Tham khảo==
Người dùng vô danh