Khác biệt giữa các bản “Lai hóa (hóa học)”

 
== Tổng quan ==
Lai hóa Obitan được cho là sự trộn lẫn các obitan nguyên tử, xen phủ nhau theo nhiều tỉ lệ. Ví dụ, với metan, obitan lai hóa của C hình thành từ các liên kết [[carbon]]–[[hydro]] chứa 25% đặc tính s và 75% đặc tính p do vậy được mô tả là lai hóa sp<sup>3</sup> (đọc như ''s-p-ba''). [[Cơ học lượng tử]] mô tả swhsự lai hóa này như một [[hàm sóng]] sp<sup>3</sup> với hình thức N(s + {{sqrt|3}}pσ), tại đó N là một [[hằng số chuẩn]] (tại đây là 1/2) và pσ là một obitan p định hướng dọc theo trục C-H để hình thành một [[liên kết sigma]]. Trong ví dụ này hệ số tỉ lệ (thường được biểu thị là λ) là [[căn bậc hai của 3|{{sqrt|3}}]]. Từ khi [[mật độ electron]] liên kết với một obitan tỉ lệ với bình phương hàm sóng, tỉ lệ của đặc tính p với đặc tính s là λ<sup>2</sup> = 3. Đặc tính p hoặc khối lượng của phần p là N<sup>2</sup>λ<sup>2</sup> = 3/4.
 
Lượng đặc tính p hay đặc tính s, vốn được quyết định chủ yếu bởi sự lai hóa obitan, có thể dùng để dự đoán các đặc tính của phân tử như tính axit hay tính bazo.<ref>{{cite web|title=Acids and Bases|url=http://orgomadesimple.com/organic-chemistry-acids-and-bases/|website=Orgo Made Simple|accessdate=23 June 2015}}</ref>
Người dùng vô danh