Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
Đã lùi lại sửa đổi của 116.110.79.22 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Kẹo Dừa
Cha của Âm Lệ Hoa là [[Âm Lục]] (陰陸), mẹ của bà là [[Đặng phu nhân]] (鄧夫人), cũng là dòng họ quyền thế ở Nam Dương. Bà có ít nhất bốn người em: [[Âm Hưng]] (陰興), [[Âm Tựu]] (陰就), [[Âm Thức]] (陰識) và [[Âm Hân]] (陰訢), trong đó Âm Hưng và Âm Hân là bào đệ đồng mẫu với bà, còn Âm Thức do vị phu nhân trước của cha bà sinh ra. Gia đình bà có mối giao hảo rất tốt với dòng họ Đặng của [[Đặng Vũ]], về sau cũng là gia thần có công của chồng bà Lưu Tú. Chị của bà Âm thị là vợ [[Đặng Nhượng]], còn mẹ bà Đặng phu nhân xuất thân trong gia tộc họ Đặng. Hòa Hi hoàng hậu [[Đặng Tuy]], vợ của cháu cố bà là [[Hán Hòa Đế]] có mẹ là Âm thị, là con gái của đường đệ của Âm Lệ Hoa.
 
Âm hoàng hậu cùng quê với [[Hán Quang Vũ Đế]] Lưu Tú. Khi họ còn trẻ, Lưu Tú đã say mê, thán phục trước sắc đẹp, tài năng và nhân phẩm của bà và có tình cảm đặc biệt sâu nặng với bà. Theo ''[[Hậu Hán thư]]'', khi Lưu Tú viếng thăm kinh thành [[Trường An]], ông đã trở nên ấn tượng với ''chấp kim ngô'' (執金吾, quan viên lãnh đạo cấm quân bảo vệ kinh thành và cung thành), lập lời thề rằng: ''"Nếu được làm một quan viên, ta muốn trở thành chấp kim ngô; nếu ta thành thân, ta muốn lấy Âm Lệ Hoa"''.
Âm Lệ Hoa từ nhỏ đã xinh đẹp, duyên dáng, hơn nữa tính tình dịu dàng, hiếu thuận, ở quê hương Nam Dương, Tân Dã tiếng lành đồn xa. Mấy đời nhà họ Âm nổi tiếng hiếu thuận, hiền từ, Âm Lệ Hoa bảy tuổi mất cha, mỗi lần nhớ đến phụ thân nàng sẽ rơi lệ, cho đến mấy chục năm sau vẫn như thế.
 
Năm Canh Thủy nguyên niên ([[23]]), trong khi Lưu Tú làm quan cho triều đình của [[Lưu Huyền|Hán Canh Thủy Đế]], ông đã kết hôn với Âm Lệ Hoa. Sau đó, khi ông được Canh Thủy Đế phái đến khu vực phía bắc [[Hoàng Hà]], bà đã trở về nhà cũ.
Lưu Tú lần đầu thấy Âm Lệ Hoa đã ái mộ nàng, khi đó chàng còn là một nông dân vô cùng bình thường. Có một ngày, chàng đến kinh thành Trường An, khi đến đầu phố đúng lúc gặp đoàn xe ngựa long trọng của chấp kim ngô (quan viên lãnh đạo cấm quân bảo vệ kinh thành và cung thành) đi qua, trong lòng không khỏi nổi lên khát khao về sự nghiệp và hôn nhân của người trẻ, lập lời thề rằng: “''Nếu được làm quan ta muốn trở thành chấp kim ngô, nếu thành thân ta muốn lấy Âm Lệ Hoa''“.
 
Từ khi mới quen đến lúc kết hôn, hai người ít khi gặp nhau. Sau khi chia tay kiếp sống nhà nông, Lưu Tú cùng anh cả Lưu Diễn bước trên con đường chống Vương Mãng, vượt qua muôn trùng khổ nạn đi đến hưng thịnh. Trải qua mười hai năm chinh chiến, Lưu Tú thể hiện thiên phú quân sự và tài dẫn binh xuất chúng. Hắn nén giận xông ra bẫy rập của quân địch, trước sau bình định và tiêu diệt các thế lực lớn mạnh cát cứ Quan Đông, Lũng Hữu, Tây Thục, chấm dứt cục diện quân phản động giao chiến và cát cứ kéo dài gần 20 năm.
 
Vào tháng 6 năm Canh Thủy nguyên niên (năm 23), Lưu Tú gần 30 tuổi đã kết hôn với Âm Lệ Hoa 19 tuổi tại Uyển Thánh, đón nàng vào phủ đại tướng quân Phá Lỗ, do Hán Canh Thủy Đế Lưu Huyền phong cho.
 
Trước khi kết hôn, Lưu Tú vừa trải qua một trận đại biến. Vào tháng 2 năm 23, Lưu Tú suất lĩnh quân Lục Lâm tại Côn Dương đánh một trận thắng lớn, dùng vạn người diệt 42 vạn quân Vương Mãng, giết chủ soái quân dịch Vương Tầm, sử sách gọi trận đánh này là đại chiến Côn Dương.
 
Thanh danh của Lưu Tú và anh cả Lưu Diễn lên cao không những không được Hán Canh Thủy Đế tin dùng mà trái lại lọt vào nghi kị, Lưu Diễn bị hãm hại chết để trừ hậu hoạ. Lưu Tú trong lòng vô cùng đau xót nhưng không lộ ra ngoài. Khi Lưu Diễn gặp nạn, trong hàng ngũ quân đội của ông kết bè phái khác thường. Vốn Lưu Diễn mong đợi Lưu Tú lập công lớn rồi mới thành hôn nhưng không ngờ công lớn vừa lập thì mạng cũng vong. Sau khi anh cả mất, Lưu Tú cấp thiết kết hôn là có dụng ý, chàng muốn tung hỏa mù mê hoặc phe của Hán Canh Thủy Đế, buông lỏng đề phòng với mình. Nước cờ này quả thực đã phát huy được công hiệu đó.
 
Lưu Tú và Âm Lệ Hoa tương tư vài năm, người hữu tình cuối cùng sẽ về cùng một nhà. Tuy nhiên, từ lúc gặp nhau đến một thời gian ngắn sau khi kết hôn, hai người đều là chung đụng thì ít mà xa cách thì nhiều. Cuộc hôn nhân lưỡng tình tương duyệt này đối với Lưu Tú là con thuyền giương buồm chờ khỏi hành để đi đường càng xa; còn với Âm Lệ Hoa thì đây là khảo nghiệm về nỗi dày vò sống xa nhau và mối nguy cái chết chia lìa đôi lứa xuất hiện liên tiếp, thế mà nàng không một lời oán trách, không hề sợ hãi. Khảo nghiệm liên tiếp đến từ người thứ ba cho thấy tính lợi tha của Âm Lệ Hoa, vì sự lương thiện của nàng không giống người thường, khó ai có được như vậy.
 
Lưu Tú thành hôn mới ba tháng thì xuất hiện tình thế hỗn loạn,Hán Canh Thủy Đế ra lệnh cho chàng đến Lạc Dương. Mất đi người anh cả giúp đỡ lẫn nhau, Lưu Tú một mình đi về phía Tây nghênh đón chiến cuộc mới, chàng quyết định lại để người vợ mới cưới về nhà mẹ đẻ ở Tân Dã. Về sau chiến cuộc lại có biến hóa, Âm Lệ Hoa theo người nhà anh cả Âm Thức trăn trở di chuyển. Ba năm sau hai vợ chồng mới được gặp lại, mà thiên hạ đã trải qua một phen biến động lớn. Phu quân Lưu Tú phục hưng nhà Hán, trở thành Đông Hán Quang Vũ Đế, cuộc hôn nhân của nàng lại gặp đại khảo nghiệm.
 
== Sắc phong Quý nhân ==
GiữaNăm tìnhCanh nghĩaThủy vợthứ chồng2 và đại cuộc([[24]]), rất khó chọn bên nào bỏ bên nào. Đểđể củng cố lực lượng quân đội trong chiến dịch tiêu diệt [[Vương Lang]], Lưu Tú giankết nanhôn đưa ra quyết định, chàng cướivới [[Quách Thánh Thông]], chất nữ của quân phiệt Chân Định vương [[Lưu Dương]] (劉楊), sử sách gọi việc này là ''"Lưu Tú lấy vợ mượn quân"''. Quách Thánh Thông đã hạ sinh một hoàng tử đặt tên là [[Lưu Cương]] (劉疆). Trong vô hình tiêu trừ một trận ác chiến. Quân đội của Chân Định Vương Lưu Dương phản chiến đi theo Lưu Tú, trọng kích quân địch, tăng thêm trợ lực. Bên này là tất cả đều vui vẻ, bên kia phải chăng rơi lệ?
Năm Canh Thủy thứ 2 ([[24]]), Ly khai Uyển Thành, rời khỏi người vợ mới cưới tiến về trước Lạc Dương, điều tiếp theo Lưu Tú đối mặt chính là một trận khổ chiến chữa rõ cát hung ra sao. Trong loạn thế, nhiều đội ngũ nổi lên, mỗi người nắm giữ binh quyền đều dựa vào địa vị vương thèm muốn ngôi vị hoàng đế. Lưu Tú tuy có được huyết thống hoàng thất Tây Hán, cách xử sự làm người tại đương thời cũng có danh tiếng rất cao, nhưng sau khi anh cả qua đời, quân sĩ theo phe chàng còn rất ít ỏi.
 
Lúc ấy Chân Định Vương Lưu Dương sở hữu mười vạn binh mã, có sức ảnh hưởng chi phối tình thế, Lưu Tú bèn phái người đi thuyết phục ông. Lưu Dương đồng ý ngả về phe Lưu Tú nhưng lại đưa ra một điều kiện khiến chàng khó xử, ông ta muốn Lưu Tú lấy cháu ngoại của mình là Quách Thánh Thông làm vợ cả. Quách Thánh Thông cũng là một người có xuất thân danh môn thế gia, con cháu quan lại, dung mạo xinh đẹp, hiểu biết nhiều. Kế liên hôn này là để bảo đảm về sau nếu Lưu Tú quả thật đạt thành nghiệp đế vương thì Lưu Dương có thể dựa vào quan hệ thân thích được phong chức tước. Lưu Dương cũng có con gái, nhưng ông không muốn mạo hiểm như vậy, người đầu cơ này có lòng dạ rất sâu.
 
Mưu tính của Lưu Dương khiến Lưu Tú lâm vào khổ chiến nội tâm: Vi nghiệp lớn tương lai chàng phải đáp ứng điều kiện đó, bởi dưới thành Côn Dương còn có trăm vạn quân địch, nếu Lưu Dương phản bội thì tướng sĩ đi theo chàng sẽ hi sinh vô ích, hơn nữa còn chưa đòi lại công bằng cho anh cả bị hãm hại vong mạng, mà chính chàng vẫn đang gành trọng trách nhẫn nhục giết ra lớp lớp vòng vây; thế nhưng khi nghĩ đến đáp ứng liên hôn thì sẽ cô phụ người vợ yêu quý, lại khiến lòng chàng đau đớn, làm sao có thể cô phụ chân tình nghĩa nặng của Âm Lệ Hoa?
 
Giữa tình nghĩa vợ chồng và đại cuộc, rất khó chọn bên nào bỏ bên nào. Để củng cố lực lượng quân đội trong chiến dịch tiêu diệt [[Vương Lang]], Lưu Tú gian nan đưa ra quyết định, chàng cưới [[Quách Thánh Thông]], chất nữ của quân phiệt Chân Định vương [[Lưu Dương]] (劉楊), sử sách gọi việc này là ''"Lưu Tú lấy vợ mượn quân"''. Quách Thánh Thông đã hạ sinh một hoàng tử đặt tên là [[Lưu Cương]] (劉疆). Trong vô hình tiêu trừ một trận ác chiến. Quân đội của Chân Định Vương Lưu Dương phản chiến đi theo Lưu Tú, trọng kích quân địch, tăng thêm trợ lực. Bên này là tất cả đều vui vẻ, bên kia phải chăng rơi lệ?
 
Năm Canh Thủy thứ 3 ([[25]]), Lưu Tú đã rời bỏ [[Canh Thủy Đế]], và tự tuyên bố mình là hoàng đế triều Hán, tức [[Hán Quang Vũ Đế]]. Cuối năm đó, khi chiếm được [[Lạc Dương]] làm kinh đô, đổi niên hiệu làm Kiến Vũ nguyên niên. Ngay khi vừa lên ngôi, ông đã cử các thuộc hạ đến hộ tống Âm Lệ Hoa và Quách Thánh Tông đến kinh thành, và phong cả hai làm ''[[Quý nhân]],'' không lập Hoàng hậu, tỏ rõ khốn cảnh tình nghĩa lưỡng nan của Quang Vũ Đế. Đây cũng là quan ải mà lịch sử đưa ra cho đôi lứa này, họ lại vượt qua cửa ải khó khăn này như thế nào?
 
Năm Kiến Vũ thứ 2 ([[26]]), LưuQuang vốnĐế muốnđã lậpchuẩn Âmbị Lệđể Hoatấn làmphong một [[Hoàng hậu]], nhưngÂm nàngquý từnhân chối,được choông rằngsủng Quáchái Quýnhất. nhânKhi lênđó làmÂm Hoàngquý hậunhân sẽchưa giúphạ củngsinh cốHoàng sứctử, mạnh cho vua,đã hơnkhước nữatừ Quáchvị quýtrí nhânHoàng đãhậu sinh đượctán hoàngthành tử.Quách Vớiquý tấmnhân. lòngDo trọngđó Quang tắc, khôngĐế màngđã lập lợi,Quách ÂmThánh LệThông Hoalàm chấpHoàng nhậnhậu làm vailập tròLưu “thiếp”Cương liềnlàm 16[[Hoàng năm.thái tử]]. Năm thứ 4 ([[28]]), Âm quý nhân hạ sinh hoàng tử đầu tiên của mình là [[Hán Minh Đế|Lưu Dương]].
 
Năm Kiến Vũ thứ 9 ([[33]]), Đặng phu nhân và [[Âm Hân]] bị đạo phỉ sát hại. Quang Vũ Đế đã rất thương tiếc họ, và ông đã phong tước hầu cho Âm Tựu và cũng cố phong tước hầu cho Âm Hưng, song Âm Hưng đã khiêm tốn từ chối và còn bảo Âm quý nhân phải luôn khiêm tốn và không tìm kiếm danh vọng cho người thân của bà. Tuy chỉ là Quý nhân nhưng Quang Vũ Đế vẫn tình cảm mặn nồng với bà. Sau bà hạ sinh tổng cộng năm hoàng tử, bằng với số hoàng tử do Quách hậu sinh.
Năm Vĩnh Bình thứ 3 ([[60]]), với sự tán thành của Âm hoàng thái hậu, Minh Đế đã lập Mã quý nhân - tiểu thư của [[Mã Viện]] - làm hoàng hậu. Mã hoàng hậu là người được Âm hoàng thái hậu yêu mến do có tính tình nhu mì và không ghen tị, có lẽ vì Mã hoàng hậu phản ánh hình ảnh của bà. Cũng vào năm 60, Minh Đế và Âm hoàng thái hậu thực hiện một chuyến thăm hiếm hoi đến quê nhà ở Nam Dương quận, họ đã dành vài ngày để thiết đãi đại tiệc các họ hàng xa thuộc họ Đặng và họ Âm của Âm hoàng thái hậu.
 
Năm Vĩnh Bình thứ 7 ([[64]]), Hoàng thái hậu Âm Lệ Hoa giá băng, hưởng thọ 60 tuổi. Bà được táng một cách trang trọng dành cho một Thái hậu và được hợp táng cùng với phu quân Quang Vũ Đế của bà tại [[Nguyên lăng]]. Sử sách vẫn còn ca ngợi bà “hữu ái thiên chí”, nghĩa là nhân ái lương thiện vô cùng, không muốn làm đau kẻ khác. Hậu thế đánh giá bà rất cao, không chỉ do tính tình nhân hậu đúng mực của bà, mà còn do chính bà đã đề ra quy tắc “Hậu cung không can dự chính trường”, giúp các triều đại sau tránh nhiều rắc rối.
 
== Hậu duệ ==