Khác biệt giữa các bản “Trường phái trừu tượng”

n
[[Tập tin:First abstract watercolor kandinsky 1910.jpg|nhỏ|311x311px304x304px|Bức tranh trừu tượng màu nước đầu tiên của [[Wassily Kandinsky|Kandinsky]], 1910 ]]
'''Nghệ thuật Trừu tượng''' là trào lưu [[hội họa]] đầu [[thế kỷ 20]], vào những năm 1910 đến 1914. Nghệ thuật trừu tượng sử dụng ngôn ngữ thị giác từ những hình dạng, khuôn mẫu, màu sắc và đường nét để tạo nên một sáng tác có thể tồn tại độc lập, ở một mức nào đó, với những tham khảo có thực từ thế giới.<ref>Rudolph Arnheim, ''Tư duy thị giác'', University of California Press, 1969, ISBN 0520018710</ref> Nghệ thuật phương Tây, từ thời Phục hưng đến giữa thế kỷ 19, được đặt nền móng bởi logic của phối cảnh và nỗ lực để tái tạo một ảo ảnh về thế giới thực tại. Nghệ thuật của các nền mỹ thuật khác ngoài châu Âu thì lại dễ tiếp cận và cho thấy những cách khác để mô tả trải nghiệm thị giác tới họa sĩ. Vào cuối thế kỷ 19 nhiều họa sĩ cảm thấy cần phải tạo ra một loại hình mỹ thuật mới đặt giữa những thay đổi quan trọng xảy ra trong công nghệ, khoa học và triết học. Mỗi họa sĩ có các nguồn khác nhau để tạo nên lý thuyết của mình và tranh luận, cũng như phản ánh mối quan tâm đến xã hội và tri thức trên tất cả các lĩnh vực của văn hoá phương Tây tại thời điểm đó. <ref>Mel Gooding, ''Tranh trừu tượng'', Tate Publishing, London, 2000</ref>
 
''Nghệ thuật trừu tượng'', ''nghệ thuật phi hình thể'', ''nghệ thuật phi vật thể'', và ''nghệ thuật không trình diễn'' là các thuật ngữ không quá tách biệt. Chúng khá tương tự nhau, nhưng có lẽ không thực sự giống nhau.
[[Tập tin:Robert Delaunay, 1913, Premier Disque, 134 cm, 52.7 inches, Private collection.jpg|nhỏ|262x262px308x308px|[[Robert Delaunay]], 1912–13, ''Đĩa trưng bày'' (Le Premier Disque'')'', bán kính: 134 cm, bộ sưu tập cá nhân.]]
Trừu tượng cho thấy một bước chuyển khởi đầu từ thực tế trong mô tả hình ảnh của mỹ thuật. Sự trừu tượng tồn tại trong một chuỗi liên tục. Ngay cả nghệ thuật nhằm đạt được mức độ cao nhất cũng có thể được coi là trừu tượng, ít nhất là theo lý thuyết, vì sự thể hiện hoàn hảo là không thể nắm bắt. Tác phẩm nghệ thuật có thể tự do, những thay đổi ví dụ như màu sắc và hình thức rõ ràng, có thể nói là trừu tượng một phần. ''Trừu tượng hoàn toàn'' là không có dấu vết của bất kỳ tham khảo thực tế nào có thể nhận biết được. Ví dụ, trong trừu tượng hình học, người ta không thể tìm thấy các tham chiếu đến các thực thể tự nhiên. [[Nghệ thuật hình tượng]] và [[Trừu tượng tổng thể|nghệ thuật trừu tượng tổng thể]] giống như hai mặt của đồng xu, chúng loại trừ lẫn nhau. Nhưng lối vẽ [[Lối vẽ Hình tượng|hình tượng]] và [[cụ tượng]] (hay [[tả thực]]) nghệ thuật thường vẫn chứa một phần trừu tượng.
 
Trong mỹ thuật Trung Quốc, tranh trừu tượng có thể được truy nguồn từ nhà thơ [[Nhà Đường|Đường]] [[Vương Mặc]] (王 墨), người được cho là đã phát minh ra một phong cách vẽ tranh bằng cách vẩy mực [8]. Dù không còn bức tranh nào của ông sót lại, phong cách này lại được thấy rõ ràng trong một số bức tranh [[Nhà Tống|triều Tống]]. Các hoạ sĩ Phật giáo nhánh Thiền, [[Lương Khải]] (梁楷), (1140-1210) đã áp dụng phong cách vẽ này trong bức tranh "Bát mặc tiên nhân", tranh đã mô tả chính xác sự hy sinh để loại bỏ [[lý tính]] trong [[cái trí]] của người [[giác ngộ]]. Một họa sĩ cuối đời Tống tên là [[Vũ Kiên]], thông thạo giáo lý [[Thiên Thai tông|Phật giáo Thiên Thai]], đã tạo ra một loạt tranh các cảnh bằng các nét mực đầy chấm phá, phong cách này đã thu hút rất nhiều họa sĩ [[Thiền đạo|Thiền]] người Nhật. Những bức tranh của ông thường tả những ngọn núi phủ sương mù dày đặc, trong đó các hình dạng của các vật thì khó nhìn thấy và cực kỳ giản lược. Kiểu tranh này được tiếp tục bởi [[Sesshu Toyo]] trong những năm sau đó.
[[Tập tin:Enso.jpg|nhỏ|226x226px|''Viên tương'' ( 2000) bởi [[Kanjuro Shibata XX]]]]
Một ví dụ khác của sự trừu tượng trong bức tranh Trung Quốc được nhìn thấy trong bức "[[Hỗn luân đồ]]" của [[Châu Đức Nhuần]]. Bên trái của bức tranh này là một cây thông trên đất đá, các nhánh của nó cuộn bởi những nhành nho, chuyển động hỗn loạn về phía bên kia của bức tranh. Bên phải lại là một vòng tròn hoàn hảo (có thể vòng tròn đã được vẽ bằng com-pa [9]) lơ lửng trong khoảng không. Bức tranh là một sự phản ánh của siêu hình học Đạo giáo, trong đó sự hỗn loạn và thực tế là những trạng thái bổ khuyết của một chu trình tự nhiên bình thường. Dưới thời [[Gia tộc Tokugawa|Tokugawa]], một số thợ sơn Thiền đạo đã tạo ra Enso [[Viên tương]] (|''Enso(Viên tương)'')]], một vòng tròn tượng trưng cho sự giác ngộ tuyệt đối. [[Enso]] thường được thực hiện trong một cú đánh tự nhiên, nó trở thành dạng thức của thẩm mỹ tối giàn mà dẫn dắt một phần của bức tranh [[thiền]].
 
== PhongThế cáchkỉ XIX ==
{{main article|Chủ nghĩa lãng mạn|Trường phái Ấn tượng|Hậu ấn tượng|Chủ nghĩa biểu hiện}}Lúc này, các khoản bảo trợ từ nhà thờ đã giảm. Nguồn cung sinh kế cho các họa sỹ đang dần là các khoản bảo trợ tư nhân đến từ cộng đồng.
 
Ba trường phái hay phong trào nghệ thuật góp phần vào sự phát triển của nghệ thuật trừu tượng là chủ nghĩa Lãng mạn, trường phái Ấn tượng và chủ nghĩa biểu hiện. Các họa sĩ đã ngày càng độc lập về nghệ thuật trong thế kỷ 19. Lối vẽ ''nhìn khách quan về những gì được có thể thấy'', có thể được nhận ra từ các bức tranh của [[John Constable]], [[J. M. W. Turner|J M W Turner]], [[Camille Corot]] và từ họ, các nhà họa sĩ [[Trường phái Ấn tượng|Ấn tượng]] đã tiếp tục vẽ tranh ngoài trời theo [[trường phái Barbizon]].
 
Những dấu hiệu đầu tiên của một trường phái nghệ thuật mới đã được James McNeill Whistler khơi mào. Trong bức tranh Dạ khúc Đen và Vàng: Tên lửa rơi xuống (1872), cảm giác thị giác được nhấn mạnh hơn là mô tả đồ vật.
Về mặt kỹ thuật, tiền bối của trường phái này chính là [[Chủ nghĩa siêu thực|Trường phái Siêu thực]], nổi bật về sự sáng tạo tự sinh và vô thức hay tiềm thức.Bức vẽ với những chấm màu lem nhem trên vải dầu để giữa sàn nhà của [[Jackson Pollock]] đã trở thành 1 phương pháp và là nguồn gốc cho những tác phẩm của [[André Masson]], [[Max Ernst]] và [[David Alfaro Siquerios]]. Một biểu hiện quan trọng ban đầu khác để hình thành nên một trường phái như vậy là tác phẩm của hoạ sĩ vùng tây bắc nước Mỹ - [[Mark Tobey]], đặc biệt là những bức tranh sơn dầu ''"white-writing"'' tuy không có kích thước lớn nhưng đã cho thấy trước được cái nhìn ''"mọi mặt"'' từ bản vẽ ướt của Pollock.