Khác biệt giữa các bản “Trường phái trừu tượng”

(→‎Nguồn gốc lịch sử: Thêm thông tin)
 
Ngoài ra vào cuối thế kỷ XIX ở Đông Âu, [[chủ nghĩa thần bí]] và buổi đầu của [[chủ nghĩa hiện đại]] được thể hiện bởi nhà [[Thuyết thần trí|thần trí]] [[Helena Blavatsky]] đã có một tác động sâu sắc đến các họa sỹ hình học tiên phong như [[Hilma af Klint]] và [[Wassily Kandinsky]]. Giáo lý thần bí của [[George Gurdjieff|Georges Gurdjieff]] và [[P.D. Ouspensky]] cũng đã có một ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành các phong cách trừu tượng hình học của [[Piet Mondrian]] và các đồng nghiệp của ông vào đầu thế kỷ 20. <ref>[http://www.newcriterion.com/articles.cfm/Mondrian---mysticism---ldquo-My-long-search-is-over-rdquo--4237 "Hilton Kramer, "Mondrian & chủ nghĩa huyền bí: cuộc tìm kiếm dài của tôi đã kết thúc", <nowiki>''</nowiki>Tiêu chí mới<nowiki>''</nowiki>, tháng 9 1995"]. Newcriterion.com. Truy cập 26-2-2012.</ref>
 
== Thế kỉ XX ==
{{main article|Lập thể|Trường phái Dã thú||}}Trường phái [[Hậu ấn tượng|Hậu Ấn tượng]] với các họa sĩ như [[Paul Gauguin]], [[Georges Seurat]], [[Vincent van Gogh]] và [[Paul Cézanne]] đã có một tác động rất lớn đối với mỹ thuật thế kỷ 20 và dẫn tới sự ra đời của trường phái trừu tượng của thế kỷ 20. Các tác phẩm để lại của các hoạ sĩ như [[Vincent van Gogh|Van Gogh]], [[Paul Cézanne|Cézanne]], [[Paul Gauguin|Gauguin]], và [[Georges Seurat|Seurat]] là tối quan trọng cho sự phát triển của mỹ thuật hiện đại. Vào đầu thế kỷ 20, [[Henri Matisse]] và một số nghệ sĩ trẻ [[tiền-Lập thể]] khác có thể kể đến như [[Georges Braque]], [[André Derain]], [[Raoul Dufy]] và [[Maurice de Vlaminck]] đã cách mạng giới nghệ thuật ở Paris với các bức vẽ "hoang dã", đa màu sắc, hàm xúc mà các nhà phê bình gọi là [[Trường phái dã thú|trường phái Dã thú]]. Với các màu sắc mạnh mẽ, những nét vẽ tự do và giàu tính tưởng tượng, [[Henri Matisse]] đã tiến rất gần với sự trừu tượng thuần túy qua các bức tranh ''Cửa sổ Pháp tại Collioure'' (1914), ''Góc nhìn từ Nhà thờ Đức bà'' (1914) và ''Bức rèm Vàng'' năm 1915. Ngôn ngữ ''thô'' của màu sắc như được phát triển bởi trường phải dã thú cũng trực tiếp ảnh hưởng một người tiên phong khác của trường phái trừu tượng, [[Wassily Kandinsky]] (xem tranh).
 
Mặc dù [[Lập thể|trường phái Lập thể]] rất phụ thuộc vào chủ thể, trường phái này, cùng với [[Trường phái dã thú|Dã thú]], là các phong trào nghệ thuật đã trực tiếp mở ra cánh cửa để bước tới trường phái trừu tượng trong thế kỷ 20. [[Pablo Picasso]] đã tạo ra những bức hoạ đầu tiên của ông dựa trên ý tưởng của [[Paul Cézanne|Cézanne]] rằng tất cả các mô tả về tự nhiên có thể được giản lược còn ba khối rắn: [[Khối lập phương|hình lập phương]] , [[hình cầu]] và [[hình nón]]. Với bức tranh ''Các cô gái ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon)'' (1907), Picasso đã mô tả trần trụi cảnh nhà thổ thô sơ với năm cô gái bán dâm. Ông vẽ các phụ nữ một cách bạo liệt, có thể gợi đến các [[mặt nạ thổ dân châu Phi]] và thể hiện sáng tạo [[Lập thể]] mới của ông. [[Lập thể|Lập thể phân tích]] được Pablo Picasso và Georges Braque cùng phát triển trong khoảng năm 1908 đến năm 1912. Trường phái [[Lập thể|Lập thể phân tích]] là biểu hiện rõ ràng đầu tiên của trường phái [[Lập thể]], theo sau đó là [[Lập thể|Lập thể tổng hợp]] với các họa sĩ Braque, [[Pablo Picasso|Picasso]], [[Fernand Léger]], [[Juan Gris]], [[Albert Gleizes]], [[Marcel Duchamp]] và một số người khác vào những năm 1920. [[Lập thể|Lập thể tổng hợp]] được đặc trưng bởi đi đầu trong sử dụng các kết cấu, bề mặt khác nhau, các yếu tố ''chắp nối'', kỹ thuật ''[[papier collé]]'' và các chủ đề hỗn hợp đa dạng. Dù cấu tạo từ các phần rời rạc hay chắp nối, nhưng khi tập hợp lại, chúng có thể tạo nên bức tranh ở một tầm mới. Một số họa sĩ ''chắp nối'' như [[Kurt Schwitters]] và [[Man Ray]] và một số họa sĩ khác lấy gợi ý từ trường phái Lập thể đã góp phần sự phát triển của phong trào mỹ thuật với tên gọi [[Dada]].
 
Nhà thơ người Ý Filippo Tommaso Marinetti xuất bản Tuyên ngôn về Tương lai năm 1909, sau đó đã truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ như Carlo Carra trong Vẽ tranh, tiếng ồn và mùi và Umberto Boccioni Train in Motion, 1911, tới một giai đoạn trừu tượng hơn nữa, Cubism, những phong trào nghệ thuật có ảnh hưởng sâu sắc khắp Châu Âu [16].
 
Trong năm 1912 Salon de la Section d'Or, nhà thơ Guillaume Apollinaire đã đặt tên cho tác phẩm của nhiều họa sĩ trong đó có Robert, Orphism [17]. Ông đã định nghĩa nó là, nghệ thuật vẽ các cấu trúc mới từ các phần tử không được mượn từ hình cầu, nhưng đã được tạo ra hoàn toàn bởi nghệ sĩ ... nó là một nghệ thuật thuần khiết [18].
 
Kể từ đầu thế kỷ XX, các mối quan hệ văn hoá giữa các nghệ sĩ của các thành phố lớn ở châu Âu đã trở nên cực kỳ năng động khi họ cố gắng tạo ra một hình thức nghệ thuật tương đương với nguyện vọng cao của chủ nghĩa hiện đại. Các ý tưởng có thể thụ phấn chéo bằng các sách, triển lãm và bản tuyên bố của các nghệ sĩ để nhiều nguồn mở ra để thử nghiệm và thảo luận và tạo cơ sở cho các phương thức trừu tượng đa dạng. Đoạn trích sau đây của cuốn The World Backwards cho thấy một số ấn tượng về sự liên kết văn hoá vào thời điểm đó: "Kiến thức của David Burliuk về các phong trào nghệ thuật hiện đại phải rất mới mẻ, cho cuộc triển lãm Knave of Diamonds lần thứ hai vào tháng 1 năm 1912 (ở Moscow) bao gồm không chỉ những bức tranh được gửi từ Munich, mà còn một số thành viên của nhóm Die Brücke của Đức, trong khi đó từ Paris đến làm việc bởi Robert Delaunay, Henri Matisse và Fernand Léger, cũng như Picasso Trong mùa xuân David Burliuk ông đã đi ra nước ngoài vào tháng 5 và trở lại quyết tâm đối đầu với nhân sự almanac Der Blaue Reiter đã xuất hiện từ các máy in khi ông ở Đức ". [ 19]
 
Từ năm 1909 đến năm 1913, nhiều tác phẩm thử nghiệm trong việc tìm kiếm 'nghệ thuật thuần khiết' này đã được tạo ra: bởi Hilma af Klint; Francis Picabia đã vẽ Caoutchouc, 1909, [20] Mùa Xuân, 1912, [21] Những điệu múa ở Spring [22] và The Procession, Seville, 1912; [23] Wassily Kandinsky vẽ Untitled (Tóm tắt Watercolor đầu tiên), 1910, [24 ] František Kupka đã vẽ những tác phẩm Orphist, Discs of Newton (Nghiên cứu cho Fugue trong hai màu), 1912 [26] và Amorpha, Fugue en deux [19] [sửa] Tham khảo Hồ Ngọc Đức, Free Vietnamese Dictionary Project (chi tiết) couleurs (Fugue trong hai màu), 1912; Roberto Delaunay đã vẽ một bức tranh có tựa đề Đồng thời Windows và Hình tròn Circles, Soleil n ° 2 (1912-13); [27] Léopold Survage tạo ra Nhịp điệu màu (Nghiên cứu cho bộ phim), 1913; [28] Piet Mondrian, vẽ Tableau No. và Sáng tác số 11, 1913. [29]
 
== Nguồn gốc lịch sử ==