Khác biệt giữa các bản “Trường phái trừu tượng”

Thêm phần Bauhaus
(→‎Nguồn gốc lịch sử: Thêm thông tin và tranh)
(Thêm phần Bauhaus)
Nhiều họa sĩ trừu tượng ở Nga đã đi theo [[Trường phái kiến tạo|trường phái Kiến tạo]] (''Constructivism'') với niềm tin rằng nghệ thuật không còn là một cái gì đó xa xôi, mà chính là cuộc sống. Các họa sĩ phải như một một kỹ thuật viên, học cách sử dụng các công cụ và nguyên liệu sản xuất thời hiện đại. ''Mỹ thuật vào đời sống!'' là khẩu hiệu của [[Vladimir Tatlin]], và của tất cả các họa sĩ Kiến tạo sau này. [[Varvara Stepanova]] và [[Alexandre Exter]] cùng một số người khác thì từ bỏ giá vẽ và chuyển công sức của mình cho các thiết kế sân khấu và các tác phẩm đồ hoạ. Một thái cực khác là [[Kazimir Malevich]], [[Anton Pevsner]] và [[Naum Gabo]]. Họ lập luận rằng mỹ thuật là tối quan trọng cho hoạt động tinh thần; tạo ra vị trí của cá nhân trên thế giới, chứ không phải để tổ chức cuộc sống theo [[chủ nghĩa thực dụng]] và [[Chủ nghĩa duy vật|duy vật]]. Nhiều người trong số họ đi nghịch với ý tưởng nghệ thuật [[sản xuất duy vật]] và rời khỏi Nga. [[Anton Pevsner]] sang [[Pháp]], [[Gabo]] đi đến [[Berlin]], rồi tới [[Anh]] và cuối cùng đến [[Hoa Kỳ|Mỹ]]. [[Wassily Kandinsky|Kandinsky]] học ở [[Moskva|Moscow]] sau đó đến [[Bauhaus]]. Vào giữa những năm 1920, [[Cách mạng Tháng Mười|thời kỳ Cách mạng]] (1917-1921) thời kì các nghệ sĩ đã được tự do thử nghiệm đã kết thúc; sau đó, vào những năm 30, chỉ [[Hiện thực xã hội chủ nghĩa|chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa]] mới là hợp phép.<ref>Camilla Gray, ''Thể nghiệm mỹ thuật ở Nga, 1863–1922'', Thames và Hudson, 1962</ref>
 
== Trường Mỹ: giữathuật thế kỷ XXBauhaus ==
[[Bauhaus|Trường Mỹ thuật Bauhaus]] được thành lập bởi Walter Gropius vào năm 1919 tại [[Weimar]], [[Đức]]. <ref>Walter Gropius , ''Bauhaus 1919–1928.'' Herbert Bayer, Ấn phẩm Bảo tàng Mỹ thuật hiện đại. Charles T Banford, Boston, 1959</ref> Triết lý của chương trình giảng dạy là nhất thống tất cả các [[nghệ thuật thị giác]] và [[Tạo hình|nghệ thuật tạo hình]] từ [[kiến trúc]] và [[hội họa]]. Triết lý này đã phát triển từ những ý tưởng của [[trào lưu Nghệ thuật Thủ công]] ở Anh và ''[[Deutscher Werkbund]]''. Một số giáo viên có thể kể đến như [[Paul Klee]], [[Wassily Kandinsky]], [[Johannes Itten]], [[Josef Albers]], [[Anni Albers]] và [[László Moholy-Nagy]]. Năm 1925 trường được di dời đến [[Dessau]]. Đến năm 1932, khi [[Đức Quốc Xã|đảng Quốc xã]] nắm quyền kiểm soát, Bauhaus bị buộc phải đóng cửa. Năm 1937, cuộc triển lãm mỹ thuật ''"thoái hóa"'' (cụm từ [[Đức Quốc Xã|đảng Quốc xã]] dành cho [[mỹ thuật hiện đại]]), 'Entartete Kunst' đã trưng bày tất cả các loại hình [[mỹ thuật tiên phong]] bị [[Đức Quốc Xã|đảng Quốc xã]] cấm đoán. Tuy nhiên, dưới áp lực của [[Đức Quốc Xã|Đức Quốc xã]], giới họa sĩ, không chỉ riêng ở [[Bauhaus]] mà cả Châu Âu nói chung, phải di tản đến [[Paris]], [[Luân Đôn|London]] và [[Hoa Kỳ|Mỹ]]. [[Paul Klee]] đến Thụy Sĩ nhưng nhiều họa sĩ ở [[Bauhaus]] thì tới [[Hoa Kỳ|Mỹ]].
 
== Mỹ: giữa thế kỷ XX ==
[[Tập tin:Piet Mondriaan, 1939-1942 - Composition 10.jpg|trái|nhỏ|243x243px|[[Piet Mondrian|Piet Mondriaan]], 1939-1942, ''Sáng tác số 10'']]
Trong thời kì [[Đức Quốc Xã|Đức Quốc xã]] đang bành trướng quyền lực vào những năm 1930, nhiều nghệ sĩ đã rời khỏi Châu Âu đến Hoa Kỳ. Vào đầu những năm 1940, những trường phái chính trong mỹ thuật hiện đại, như [[Chủ nghĩa biểu hiện|trường phái biểu hiện]], [[Lập thể|chủ nghĩa lập thể]], trừu tượng, [[Chủ nghĩa siêu thực|siêu thực]] và [[dada]] đã được thể hiện ở New York: [[Marcel Duchamp]], [[Fernand Léger]], [[Piet Mondrian]], [[Jacques Lipchitz]], [[André Masson]], [[Max Ernst]], [[André Breton]], là số ít người châu Âu lưu vong đến New York. <ref>Gillian Naylor, ''The Bauhaus'', Studio Vista, 1968</ref> Nền văn hóa phong phú ở đây được các nghệ sỹ châu Âu mang đến đã được các họa sỹ "bản địa" ở [[Thành phố New York|New York]] cô đọng và củng cố. Không khí tự do ở New York cho phép tất cả những ảnh hưởng này phát triển. Các phòng trưng bày nghệ thuật vốn chủ yếu tập trung vào mỹ thuật Châu Âu đã bắt đầu chú ý đến cộng đồng mỹ thuật địa phương và tác phẩm của các họa sỹ Mỹ trẻ đang dần trưởng thành. Một số họa sĩ thời điểm này đã đưa sự trừu tượng rõ ràng vào các tác phẩm của họ. Trong giai đoạn này, bức tranh của [[Piet Mondrian]] ''Sáng tác số 10'', khoảng năm 1939-1942, được đặc trưng bởi các màu cơ bản, nền trắng và các đường lưới màu đen rõ ràng xác định cách tiếp cận đột phá nhưng cổ điển của ông đối với hình chữ nhật và mỹ thuật trừu tượng nói chung. Một số nghệ sĩ của giai đoạn này đã thách thức sự phân loại thông thường, chẳng hạn như [[Georgia O'Keeffe]] lúc là một họa sĩ trừu tượng theo [[Trường phái hiện đại|trường phái Hiện đại]]; cô là một người phá cách thuần túy vì đã vẽ các hình thức trừu tượng cao nhưng không có thể xếp vào bất kỳ nhóm cụ thể nào của thời kỳ này.