Khác biệt giữa các bản “Trường phái trừu tượng”

n
→‎Mỹ: giữa thế kỷ XX: Tinh chỉnh bài viết
(Thêm thông tin và tranh)
n (→‎Mỹ: giữa thế kỷ XX: Tinh chỉnh bài viết)
== Mỹ: giữa thế kỷ XX ==
[[Tập tin:Piet Mondriaan, 1939-1942 - Composition 10.jpg|trái|nhỏ|243x243px|[[Piet Mondrian|Piet Mondriaan]], 1939-1942, ''Sáng tác số 10'']]
Trong thời kì [[Đức Quốc Xã|Đức Quốc xã]] đang bành trướng quyền lực vào những năm 1930, nhiều nghệ sĩ đã rời khỏi Châu Âu đến Hoa Kỳ. Vào đầu những năm 1940, những trường phái chính trong mỹ thuật hiện đại, như [[Chủ nghĩa biểu hiện|trường phái biểu hiện]], [[Lập thể|chủ nghĩa lập thể]], trừu tượng, [[Chủ nghĩa siêu thực|siêu thực]] và [[dada]] đã được thể hiện ở New York: [[Marcel Duchamp]], [[Fernand Léger]], [[Piet Mondrian]], [[Jacques Lipchitz]], [[André Masson]], [[Max Ernst]], [[André Breton]], là số ít người châu Âu lưu vong đến New York. <ref>Gillian Naylor, ''The Bauhaus'', Studio Vista, 1968</ref> Nền văn hóa phong phú ở đây được các nghệ sỹ châu Âu mang đến đã được các họa sỹ "bản địa" ở [[Thành phố New York|New York]] cô đọng và củng cố. Không khí tự do ở New York cho phép tất cả những ảnh hưởng này phát triển. Các phòng trưng bày nghệ thuật vốn chủ yếu tập trung vào mỹ thuật Châu Âu đã bắt đầu chú ý đến cộng đồng mỹ thuật địa phương và tác phẩm của các họa sỹ Mỹ trẻ đang dần trưởng thành. Một số họa sĩ thời điểm này đã đưa sự trừu tượng rõ ràng vào các tác phẩm của họ. Trong giai đoạn này, bức tranh của [[Piet Mondrian]] ''Sáng tác số 10'', khoảng năm 1939-1942, được đặc trưng bởi các màu cơ bản, nền trắng và các đường lưới màu đen rõ ràng xác định cách tiếp cận đột phá nhưng cổ điển của ông đối với hình chữ nhật và mỹ thuật trừu tượng nói chung. Một số nghệ sĩ của giai đoạn này đã thách thức sự phân loại thông thường, chẳng hạn như [[Georgia O'Keeffe]] lúc là một họa sĩ trừu tượng theo [[TrườngChủ pháinghĩa hiện đại|trường phái Hiện đại]]; cô là một người phá cách thuần túy vì đã vẽ các hình thức trừu tượng cao nhưng không có thể xếp vào bất kỳ nhóm cụ thể nào của thời kỳ này.
 
Cuối cùng, các họa sĩ Mỹ đang làm việc với các phong cách vô cùng đa dạng dần hợp nhất thành các nhóm phong cách cô đọng. Nhóm họa sĩ nổi tiếng nhất của Mỹ đã được biết đến là các nhà mỹ thuật [[Trừu tượng Biểu hiện]] và [[trường phái New York]]. [[Thành phố New York|New York]] cho các họa sĩ không khí để tích cực thảo luận và tìm ra cơ hội mới để học hỏi và phát triển. Các họa sỹ và giáo viên như [[John D. Graham]] và [[Hans Hofmann]] đã trở thành những cây cầu quan trọng nối giữa những người theo [[Chủ nghĩa hiện đại|chủ nghĩa Hiện đại]] châu Âu mới đến và các họa sĩ trẻ người Mỹ đang dần tới độ chín. [[Mark Rothko]], sinh ra ở Nga, bắt đầu với tranh [[Chủ nghĩa siêu thực|siêu thực]], rồi sau đó chuyển thành các tác phẩm với màu sắc mạnh mẽ vào đầu những năm 1950. Lối vẽ [[Trừu tượng Hành động]] (''Action painting'') và chính hoạt động vẽ tranh, thì trở nên tối quan trọng đối với một số họa sĩ như [[Jackson Pollock]], [[Robert Motherwell]], và [[Franz Kline]]. Vào những năm 40, các tác phẩm minh họa của [[Arshile Gorky]] và [[Willem de Kooning]] phát triển thành trừu tượng vào cuối thập kỷ. [[Thành phố New York]] đã trở thành trung tâm, thu hút các họa sỹ trên toàn thế giới; và cả từ những nơi khác ở Mỹ nữa. <ref>Henry Geldzahler, ''Điêu khắc và Mỹ thuật New York: 1940–1970'', Metropolitan Museum of Modern Art, 1969</ref>
Tập tin:Fire in the Evening.JPG|[[:en:Paul_Klee|Paul Klee]], ''Lửa đêm'', 1929
Tập tin:Carlsund Rapid (1930).jpg|[[:en:Otto_Gustaf_Carlsund|Otto Gustaf Carlsund]], ''Liên hoàn'' (1930), [[:en:Concrete_Art|tranh trường phái Cụ thể]] treo trong nhà hàng, Stockholm
Tập tin:Battle of Lights.jpg|[[Joseph Stella]], ''Quang trận, đảo Coney'', 1913, sơn dầu trên voan, 195.6 × 215.3 cm (77 × 84.75 in), Phòng tranh Đại học Yale
Tập tin:Umberto Boccioni, 1912, Elasticity (Elasticità), oil on canvas, 100 x 100 cm, Museo del Novecento.jpg|Umberto Boccioni, 1912, ''Sự co dãn'' (''Elasticità''), sơn dầu trên voan, 100 x 100 cm, [[Museo del Novecento]]
Tập tin:Juan Gris - Portrait of Pablo Picasso - Google Art Project.jpg|Juan Gris, ''Chân dung Pablo Picasso'', 1912, sơn dầu trên voan, Viện Nghệ thuật Chicago
Tập tin:Paul Cézanne 163.jpg|[[Paul Cézanne]], ''[[Quarry Bibémus]]'', 1898-1900, Bảo tàng Folkwang, Essen, Đức
Tập tin:Riteofspring.jpg|[[Ronnie Landfield]], ''Nghi lễ mùa xuân,'' 1985
Tập tin:Gardenofdelight.jpg|''Vườn địa đàng'', 1971,, 221x183 cm, được trưng bày tại Phòng tranh David Whitney, NYC, tháng 5 năm 1971
Tập tin:Alexej von Jawlensky Variation c1916.jpg|[[Alexej von Jawlensky]], ''Biến tấu'' (1916)
</gallery>