Khác biệt giữa các bản “Nho giáo”

Nhược điểm nghiêm trọng nữa là Nho giáo Việt Nam thiếu sự xuất hiện các trường phái học thuật nên khá đơn điệu và một chiều, chứ không được phong phú và đa dạng như Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ. Đa số nhà Nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để vinh thân phì gia. Đạt được mục đích đó thì xem như việc học tập đã kết thúc. Ít người có chí cao xa, như học để tham gia tranh luận những vấn đề học thuật, học để kinh bang tế thế hoặc để phát triển văn hoá, đạt đến những tầm cao tư tưởng. Cũng có một số Nho sĩ quan tâm đến học thuật, nhưng thường là các vấn đề chính trị và đạo đức, ít bàn đến vấn đề siêu hình, một lĩnh vực thuần túy triết học làm nền tảng cho khả năng nhận thức sâu sắc thế giới và hành động sáng tạo. Thậm chí, họ còn biến những vấn đề siêu hình thành cái thực tế, thực dụng. Vì học tập và tư duy như thế nên Nho giáo Việt Nam ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật có thể so sánh với các nước Nho giáo khác.<ref name="taithu"/> Những nhược điểm trong tư duy của người Việt và nền học thuật Việt Nam từ thời Trung cổ duy trì đến tận ngày nay dù cho Nho học đã bị Tây học thay thế.
[[Tập tin:Dayhoc1.png|nhỏ|250px|phải|Thầy đồ đang dạy học trò]]
Một số nhà Nho uyên thâm của Việt Nam khi đứng trước kho tàng đồ sộ và uyên bác của Nho giáo Trung Quốc thường tóm lược lấy những điều cốt yếu, biên soạn lại thành những tài liệu đơn giản và ngắn gọn để dạy học trò. Có thể liệt kê các sách như “''Tứ thư tập chú''” của Chu Hy, “''Tứ thư đại toàn''” của Tống, Nguyên, Minh, Thanh Nho, sang Việt Nam chỉ còn là “''Thuyết ước''” (tóm lược học thuyết) và “''Ước giải''” (giải thích tóm tắt); hoặc như cuốn “''Tính lý đại toàn''” của Hồ Quảng thời Minh, sang Việt Nam chỉ còn “''Tiết yếu''”. Đây là hiện tượng chung của nhiều triều đại quân chủ Việt Nam. Nếu ở triều Trần có “''Tứ thư thuyết ước''” của [[Chu Văn An]], thì ở triều Lê - Trịnh có “''Tứ thư ước giải''” của [[Lê Quý Đôn]], triều Nguyễn có “''Tứ thư trích giảng''” của [[Nguyễn Văn Siêu]]; nếu ở triều Lê - Trịnh có cuốn “''Tính lý tiết yếu''” của [[Bùi Huy Bích]], thì ở triều Nguyễn cuốn đó vẫn còn được xem là cuốn sách giáo khoa mẫu mực. Các sách này dễ học nhưng đã lược bớt rất nhiều điều, nhiều điểm có khả năng gợi mở, giản đơn hoá nội dung phong phú và súc tích của học thuyết, khiến người học không lĩnh hội được chiều sâu của Nho giáo. Người được truyền đạt cũng hài lòng với cách làm đó thì mọi lối tư duy, mọi đường sáng tạo đều bị thu hẹp lại.<ref name="taithu"/> Ngay cả khi Nho giáo đã suy tàn, Tây học thắng thế thì người Việt vẫn giữ nguyên cách học giản lược, không hiểu biết đến nơi đến chốn nên đến tận ngày nay nền học thuật Việt Nam vẫn chưa thể so sánh với các nước trong khu vực.
 
Bên cạnh đó, hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới Nho sĩ Việt Nam. Trong khi đó bên cạnh Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia... Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác nhau. Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế. Nó chỉ đạt đến mức độ tiếp thu một số tín điều từ Nho giáo Trung Hoa, chưa tạo được lý luận riêng, chưa xuất hiện các học phái khác nhau. Phương pháp tư duy của nó thiên về bảo thủ, giáo điều.<ref name="taithu">[http://tamnhin.net/mot-so-dac-trung-co-ban-cua-nho-giao-viet-nam.html Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam], Tạp chí Triết học, Nguyễn Tài Thư, Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam</ref> Léopold-Michel Cadière nhận xét:
3.054

lần sửa đổi