Khác biệt giữa các bản “Ancol”

n
Đã lùi lại sửa đổi của 116.110.26.33 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Ledinhthang
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi từ trang di động
n (Đã lùi lại sửa đổi của 116.110.26.33 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Ledinhthang)
Thẻ: Lùi tất cả
== Tính chất vật lý và hóa học ==
 
Nhóm hydroxyl làm cho phân tử ancol [[chất phân cực|phân cực]]. Nhóm này có thể tạo ra những liên kết [[hiđrô|hydro]] với nhau hoặc với chất khác. Hai xu hướng hòa tan đối chọi nhau trong các ancol là: xu hướng của nhóm -OH phân cực tăng tính hòa tan trong nước và xu hướng của chuỗi cacbon ngăn cản điều này. Vì vậy, metanol, etanolMbbubbbjihhetanol và propanol dễ hòa tan trong nước vì nhóm hydroxyl chiếm ưu thế. Butanol hòa tan vừa phải trong nước do sự cân bằng của hai xu hướng. Pentanol và các butanol mạch nhánh hầu như không hòa tan trong nước do sự thắng thế của chuỗi cácbon. Vì lực liên kết hóa học cao trong liên kết của ancol nên chúng có nhiệt độ bốc cháy cao. Vì liên kết hydro, ancol có nhiệt độ sôi cao hơn so với hiđrôcácbon và ête tương ứng. Mọi ancol đơn giản đều hòa tan trong các dung môi hữu cơ.
và propanol dễ hòa tan trong nước vì nhóm hydroxyl chiếm ưu thế. Butanol hòa tan vừa phải trong nước do sự cân bằng của hai xu hướng. Pentanol và các butanol mạch nhánh hầu như không hòa tan trong nước do sự thắng thế của chuỗi cácbon. Vì lực liên kết hóa học cao trong liên kết của ancol nên chúng có nhiệt độ bốc cháy cao. Vì liên kết hydro, ancol có nhiệt độ sôi cao hơn so với hiđrôcácbon và ête tương ứng. Mọi ancol đơn giản đều hòa tan trong các dung môi hữu cơ.
 
Ancol còn được coi là những dung môi. Chúng có thể mất proton H<sup>+</sup> trong nhóm hydroxyl và vì vậy chúng có tính axit rất yếu: yếu hơn [[nước]] (ngoại trừ metanol), nhưng mạnh hơn [[amoniac]] (NH<sub>4</sub>OH hay NH<sub>3</sub>) hay [[acetylen]] (C<sub>2</sub>H<sub>2</sub>).