Mở trình đơn chính

Các thay đổi

không có tóm lược sửa đổi
 
Ruồi giấm ''Drosophila melanogaster'' đã được nhà di truyền học người Mỹ, Thomas Hunt Morgan (1866-1945), sử dụng trong nghiên cứu di truyền học từ những năm đầu của thế kỷ XX, trong khi đang làm việc tại Học viện Công nghệ California. Nhờ sử dụng ruồi giấm này, Morgan và các cộng sự của mình đã xây dựng thành công học thuyết di truyền nhiễm sắc thể. Lý thuyết này đã khẳng định gene - đơn vị di truyền then chốt đóng ba vai trò: (i) Gene là ''đơn vị chức năng'', nghĩa là gene được xem như một thể thống nhất toàn vẹn kiểm soát một tính trạng cụ thể. (ii) Gene là ''đơn vị tái tổ hợp'', nghĩa là gene không bị chia nhỏ bởi sự trao đổi chéo (vì theo quan điểm này, trao đổi chéo không xảy ra bên trong phạm vi một gene mà chỉ xảy ra giữa các gene); như thế gene được coi là ''đơn vị cấu trúc cơ sở của vật chất di truyền'', nhiễm sắc thể. (iii) Gene là ''đơn vị đột biến'', nghĩa là nếu đột biến xảy ra trong gene dù ở bất kỳ vị trí nào hoặc với phạm vi ra sao, chỉ gây ra một trạng thái cấu trúc mới tương ứng với một kiểu hình mới, kiểu hình đột biến, khác với kiểu hình bình thường. Tuy nhiên, quan niệm này vẫn còn chưa rõ ràng và không thực sự chính xác theo quan điểm của di truyền học hiện đại<ref name="Mader"/>
 
==Các biến đổi ở mức phân tử==
 
=== Đột biến ===
Giai đoạn tái bản DNA diễn ra phần lớn có độ chính xác cao, tuy vậy cũng có lỗi ([[đột biến]]) xảy ra.<ref name="MBOC" />{{rp|7.6}} Tần suất lỗi ở tế bào sinh vật nhân thực có thể thấp ở mức 10<sup>−8</sup> trên nucleotide trong mỗi lần tái bản,<ref name="Nachman">{{cite journal |vauthors=Nachman MW, Crowell SL |title = Estimate of the mutation rate per nucleotide in humans|journal = Genetics|volume = 156|issue = 1|pages = 297–304|date = September 2000|pmid = 10978293|pmc = 1461236|url = http://www.genetics.org/cgi/content/full/156/1/297}}</ref><ref name="Science2">{{cite journal |authors=Roach JC et al |title = Analysis of genetic inheritance in a family quartet by whole-genome sequencing|journal = Science|volume = 328|issue = 5978|pages = 636–9|date = April 2010|pmid = 20220176|pmc = 3037280|doi = 10.1126/science.1186802|url = http://www.sciencemag.org/cgi/content/abstract/science.1186802|bibcode = 2010Sci...328..636R }}</ref> trong khi ở một số virus RNA có thể cao tới mức 10<sup>−3</sup>.<ref name="Genetics2">{{cite journal |authors=Drake JW et al |title = Rates of spontaneous mutation|journal = Genetics|volume = 148|issue = 4|pages = 1667–86|date = April 1998|pmid = 9560386|pmc = 1460098|url = http://www.genetics.org/cgi/content/full/148/4/1667}}</ref> Điều này có nghĩa là ở mỗi thế hệ, trong bộ gene ở người thu thêm 1–2 đột biến mới.<ref name="Genetics2"/>
 
{{tham khảo|2}}