Khác biệt giữa các bản “Bolivia”

n
clean up using AWB
n (clean up using AWB)
| Ghi chú =
}}
'''Bolivia''' (phiên âm [[tiếng Việt]]: '''Bô-li-vi-a'''<ref>{{chúChú thích web | url = http://www.mofa.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/ | tiêu đề = | author = | ngày = | ngày truy cập = 17 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref>; {{IPA-es|boˈliβi̯a|lang}}; {{lang-qu|Buliwya}} {{IPA-qu|bʊlɪwja|}}; {{lang-ay|Wuliwya}} {{IPA-all|wʊlɪwja|}}; {{lang-gn|Mborivia}} {{IPA-gn|ᵐboˈɾiʋja|}}), tên chính thức '''Cộng hoà Đa dân tộc Bolivia''' ({{lang-es|Estado Plurinacional de Bolivia}}),<!--{{IPA-es|esˈtaðo pluɾinasjoˈnal de βoˈliβja|local}}--><ref name="ReferenceA">{{citeChú thích web|url=http://www.who.int/countries/bol/en/ |titletiêu đề=Bolivia (Plurinational State of) |publishernhà xuất bản=Who.int |datengày=11 May 2010 |accessdatengày truy cập=30 August 2010}}</ref><ref>{{citeChú thích web|url=http://data.un.org/CountryProfile.aspx?crName=Bolivia%20(Plurinational%20State%20of) |titletiêu đề=Bolivia (Plurinational State of) |publishernhà xuất bản=UNdata |accessdatengày truy cập=30 August 2010}}</ref>, được đặt theo tên nhà cách mạng [[Simón Bolívar]], là một [[quốc gia nằm kín trong lục địa]] ở trung tâm [[Nam Mỹ]]. Nước này có biên giới với [[Brasil]] ở phía bắc và phía đông, [[Paraguay]] và [[Argentina]] ở phía nam, [[Chile]] và [[Peru]] ở phía tây.
 
== Lịch sử ==
Sự tăng giá [[bạc]] trên thế giới đã mang lại cho Bolivia một sự ổn định chính trị và thịnh vượng đáng kể trong những năm 1800. Đầu thế kỷ mười chín, [[thiếc]] đã thay thế bạc trở thành nguồn tài nguyên mang lại sự thịnh vượng cho nước này. Các chính sách [[quyền tự do|tự do]] [[Chủ nghĩa tư bản|tư bản]] và sự chuyển tiếp chính phủ với quyền quản lý kinh tế, chính trị trong tay tầng lớp ưu tú tiếp tục kéo dài trong ba mươi năm đầu thế kỷ hai mươi.
 
Đời sống của người dân bản xứ, chiếm đa phần dân cư, vẫn còn tệ hại. Họ buộc phải làm việc dưới những điều kiện cổ lỗ tại các khu mỏ rộng lớn hầu như vẫn trong tình trạng phong kiến, họ bị cấm tiếp cận giáo dục, cơ hội kinh tế, hay tham gia vào hoạt động chính trị. Sự thất bại của Bolivia trong [[Chiến tranh Chaco]] (1932–35) với [[Paraguay]] đã đánh dấu một bước ngoặt<ref>{{chú thích sách |author=Harold Osborne |title=Bolivia: A Land Divided |publisher=London: Royal Institute of International Affairs |year=1954}}</ref><ref>{{chúChú thích web |author=History World |titletiêu đề=History of Bolivia |publishernhà xuất bản=National Grid for Learning |year=2004 |url=http://www.historyworld.net/wrldhis/PlainTextHistories.asp?historyid=ac11}}</ref><ref>{{chúChú thích web |author=Juan Forero |titletiêu đề=History Helps Explain Bolivia's New Boldness |publishernhà xuất bản=New York Times |year=2006 |url=http://www.nytimes.com/2006/05/07/weekinreview/07forero.html}}</ref>.
 
=== Sự nổi lên của Phong trào Cách mạng Quốc gia (1951) ===
Tương tự một nhóm đáng chú ý khác là cộng đồng Bolivia gốc Phi chiếm 0.5% dân số, hậu duệ của những nô lệ châu Phi đã được đưa tới làm việc tại Brazil và sau đó đã di cư xuống phía nam Bolivia. Họ chủ yếu tập trung tại vùng [[Yungas]] (các tỉnh [[Tỉnh Nor Yungas|Nor Yungas]] và [[Tỉnh Sud Yungas|Sud Yungas]]) tại [[Khu La Paz, Bolivia|khu La Paz]], cách khoảng ba giờ xe từ thành phố [[La Paz]]. Cũng có một cộng đồng [[người Nhật|người Nhật Bản]] tập trung chủ yếu tại [[Santa Cruz (Bolivia)|Santa Cruz de la Sierra]], và [[người Trung Đông]] rất thành công trong hoạt động thương mại.
 
Bolivia là một trong những nước kém phát triển nhất Nam Mỹ. Tới hai phần ba dân số, thường là nông dân, sống trong nghèo khổ. Mật độ dân số thay đổi từ mức chưa tới một người trên kilômét vuông ở các đồng bằng phía đông nam tới khoảng mười người trên kilômét vuông (hai nhăm người trên [[dặm vuông Anh|dặm vuông]]) ở các cao nguyên trung tâm. Năm 2006, mức tăng dân số khoảng 1.45% mỗi năm<ref name="BackgroundNote">{{chúChú thích web |titletiêu đề=Background Note: Bolivia |publishernhà xuất bản=[[United States Department of State]] |url=http://www.state.gov/r/pa/ei/bgn/35751.htm |accessdatengày truy cập = ngày 17 tháng 10 năm 2006}}</ref>.
 
Đại đa số người Bolivia theo [[Giáo hội Công giáo Rôma]] ([[Tôn giáo quốc gia|tôn giáo chính thức]]), dù số người theo [[Tin Lành|Tin lành]] cũng đang phát triển nhanh chóng<ref name=BackgroundNote/>. [[Hồi giáo]] với những tín đồ chủ yếu là người Trung Đông hầu như không tồn tại. Cũng có một cộng đồng [[Do Thái]] nhỏ hầu như đều có nguồn gốc [[Ashkenazi]]. Hơn 1% người Bolivia theo [[Bahá'í|Đức tin Bahá'í]] (khiến Bolivia trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ người theo Đức tin Bahá'ís lớn nhất thế giới). Cũng có những cộng đồng dòng [[Mennonite]] tại [[khu Santa Cruz]]<ref>{{chú thích báo |author=Sally Bowen |title=Brazil Wants What Bolivia Has |publisher=Latin Trade |url=http://findarticles.com/p/articles/mi_m0BEK/is_1_7/ai_54759942 |date=Jan 1999 |accessdate = ngày 17 tháng 10 năm 2006}}</ref> Nhiều cộng đồng bản xứ đã hòa trộn các biểu tượng tôn giáo thời [[tiền Columbo]] và [[Thiên Chúa giáo|Thiên chúa giáo]] vào trong [[tín ngưỡng]] của họ. Khoảng 80% dân số nói [[tiếng Tây Ban Nha]] như [[tiếng mẹ đẻ]], dù các ngôn ngữ Aymara và Quechua cũng thường gặp. Khoảng 90% trẻ em theo học tiểu học nhưng thường chỉ kéo dài một năm hoặc chưa tới một năm. Tỷ lệ biết chữ thấp tại các vùng nông thôn, nhưng theo CIA [[Danh sách quốc gia theo tỷ lệ biết chữ|tỷ lệ biết chữ]] toàn quốc là 87%, tương đương với Brazil, nhưng dưới mức trung bình của Nam Mỹ. Sự phát triển văn hóa tại Bolivia ngày nay được chia thành ba giai đoạn riêng biệt: tiền Columbo, thuộc địa, và cộng hoà. Những tàn tích [[Khảo cổ học|khảo cổ]] quan trọng, những đồ trang sức vàng bạc, những đền đài đá, những hiện vật [[gốm|gốm sứv]]à những mảnh vải [[dệt]] đã được tìm thấy trong nhiều nền văn hóa quan trọng thời tiền Colombo. Các tàn tích chính gồm [[Tiwanaku]], [[Samaipata]], [[Incallajta]], và [[Iskanawaya]]. Quốc gia này cũng sở hữu rất nhiều di sản khác tại những địa điểm khó tiếp cận và ít được nghiên cứu khảo cổ thực sự<ref name=BackgroundNote/>.