Khác biệt giữa các bản “Trường phái trừu tượng”

n
replaced: ( → (, . → . (2), , → , (3), Quốc Xã → Quốc xã (5), MoscowMoskva, (in French) → (bằng tiếng Pháp), tháng 10, 20 → tháng 10 năm 20, tháng 9, 20 → tháng 9 năm 20, thán using AWB
n (replaced: ( → (, . → . (2), , → , (3), Quốc Xã → Quốc xã (5), MoscowMoskva, (in French) → (bằng tiếng Pháp), tháng 10, 20 → tháng 10 năm 20, tháng 9, 20 → tháng 9 năm 20, thán using AWB)
[[Tập tin:Kandinsky, 1913, Sans titre (Etude pour Composition VII, Première abstraction).jpg|nhỏ|304x304px|Bức tranh trừu tượng màu nước đầu tiên của [[Wassily Kandinsky|Kandinsky]], 1910 ]]
'''Nghệ thuật Trừu tượng''' là trào lưu [[hội họa]] đầu [[thế kỷ 20]], vào những năm 1910 đến 1914. Nghệ thuật trừu tượng sử dụng ngôn ngữ thị giác từ những hình dạng, khuôn mẫu, màu sắc và đường nét để tạo nên một sáng tác có thể tồn tại độc lập, ở một mức nào đó, với những tham khảo có thực từ thế giới.<ref>Rudolph Arnheim, ''Tư duy thị giác'', University of California Press, 1969, ISBN 0520018710</ref> Nghệ thuật phương Tây, từ thời Phục hưng đến giữa thế kỷ 19, được đặt nền móng bởi logic của phối cảnh và nỗ lực để tái tạo một ảo ảnh về thế giới thực tại. Nghệ thuật của các nền mỹ thuật khác ngoài châu Âu thì lại dễ tiếp cận và cho thấy những cách khác để mô tả trải nghiệm thị giác tới họa sĩ. Vào cuối thế kỷ 19 nhiều họa sĩ cảm thấy cần phải tạo ra một loại hình mỹ thuật mới đặt giữa những thay đổi quan trọng xảy ra trong công nghệ, khoa học và triết học. Mỗi họa sĩ có các nguồn khác nhau để tạo nên lý thuyết của mình và tranh luận, cũng như phản ánh mối quan tâm đến xã hội và tri thức trên tất cả các lĩnh vực của văn hoá phương Tây tại thời điểm đó. <ref>Mel Gooding, ''Tranh trừu tượng'', Tate Publishing, London, 2000</ref>
 
''Nghệ thuật trừu tượng'', ''nghệ thuật phi hình thể'', ''nghệ thuật phi vật thể'', và ''nghệ thuật không trình diễn'' là các thuật ngữ không quá tách biệt. Chúng khá tương tự nhau, nhưng có lẽ không thực sự giống nhau.
Trừu tượng cho thấy một bước chuyển khởi đầu từ thực tế trong mô tả hình ảnh của mỹ thuật. Sự trừu tượng tồn tại trong một chuỗi liên tục. Ngay cả nghệ thuật nhằm đạt được mức độ cao nhất cũng có thể được coi là trừu tượng, ít nhất là theo lý thuyết, vì sự thể hiện hoàn hảo là không thể nắm bắt. Tác phẩm nghệ thuật có thể tự do, những thay đổi ví dụ như màu sắc và hình thức rõ ràng, có thể nói là trừu tượng một phần. ''Trừu tượng hoàn toàn'' là không có dấu vết của bất kỳ tham khảo thực tế nào có thể nhận biết được. Ví dụ, trong trừu tượng hình học, người ta không thể tìm thấy các tham chiếu đến các thực thể tự nhiên. [[Nghệ thuật hình tượng]] và [[Trừu tượng tổng thể|nghệ thuật trừu tượng tổng thể]] giống như hai mặt của đồng xu, chúng loại trừ lẫn nhau. Nhưng lối vẽ [[Lối vẽ Hình tượng|hình tượng]] và [[cụ tượng]] (hay [[tả thực]]) nghệ thuật thường vẫn chứa một phần trừu tượng.
 
Cả hai lối vẽ: [[trừu tượng hình học]] và [[trừu tượng trữ tình]] (''lyrical abstraction'') đều thuộc trừu tượng hoàn toàn. Có rất nhiều phong trào nghệ thuật thể hiện sự trừu tượng một phần có thể kể đến là [[trường phái dã thú]], trong đó màu sắc được làm nổi bật và cố ý biến đổi so với thực tế, và [[trường phái lập thể]] - thay đổi táo bạo hình thức của các vật thể được miêu tả. <ref>[http://painting.about.com/od/abstractart/a/abstract_art.htm "Nghệ thuật trừu tượng - Nghệ thuật trừu trượng hay tranh trừu tuọng là gì, truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009"]. Painting.about.com. 06-07-2011. [https://web.archive.org/web/20110707075052/http://painting.about.com/od/abstractart/a/abstract_art.htm Lưu trữ] từ nguyên bản 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập 11-06-2011.</ref><ref>[https://web.archive.org/web/20110608093226/http://www.nga.gov/education/american/abstract.shtm "Mỹ thuật Hoa Kỳ – Trừu tượng, truy cập tháng 1, năm 2009"]. Nga.gov. 2000-07-27. Lưu trữ từ [http://www.nga.gov/education/american/abstract.shtm nguyên bản] ngày 8 tháng 6 năm 2011. Truy cập 11-06-2011.</ref>
 
== Nghệ thuật trừu tượng trong mỹ thuật đời đầu và các nên văn hóa ==
[[Tập tin:Immortal in Splashed Ink.jpg|trái|nhỏ|334x334px|''Bát mặc tiên nhân'', Lương Khải, thế kỉ 12]]
Phần lớn mỹ thuật của các nền văn hoá trước đây - những ký hiệu và điểm nhấn trên đồ gốm, đồ dệt, và các bức tranh khắc trên vách đá - sử dụng các hình đơn giản, kỷ hà và tuyến tính, thường có mục đích biểu tượng hay trang trí<ref>György Kepes, ''Dấu hiệu, Hình ảnh và Biểu tượng'', Studio Vista, London, 1966</ref>.Mỹ thuật trừu tượng có thể truyền đạt mức độ giống như vậy qua ngôn ngữ thị giác. <ref>Derek Hyatt,"Gặp gỡ người Moor", ''Các họa sĩ hiện đại'', thu năm 1995</ref> Người ta có thể thưởng thức vẻ đẹp của bức thư pháp của Trung Quốc hoặc thư pháp Hồi giáo mà không thể hay không cần đọc nó. <ref>Simon Leys, 2013. [https://books.google.com/books?id=lrfqs5-beRAC&pg=PA304&lpg=PA304&dq= ''Sảnh vô dụng: Các bài tiểu luận sưu tầm'']. New York: New York Review Books. tr. 304. <nowiki>ISBN 9781590176207</nowiki>.</ref>
[[Tập tin:Yujian ink Mercadodemontaña.jpg|nhỏ|286x286px|''Sơn thị loan tình đồ'' (Chợ trên núi lúc sương tan), Vũ Kiên, Trung Quốc]]
Trong mỹ thuật Trung Quốc, tranh trừu tượng có thể được truy nguồn từ nhà thơ [[Nhà Đường|Đường]] [[Vương Mặc]] (王 墨), người được cho là đã phát minh ra một phong cách vẽ tranh bằng cách vẩy mực <ref>Lippit, Y. (2012). "Về truyền pháp và phong tục trong tranh sơn dầu của Nhật Bản: Phong cảnh phun nước của Sesshū năm 1495". ''The Art Bulletin'', 94(1), tr. 56.</ref>. Dù không còn bức tranh nào của ông sót lại, phong cách này lại được thấy rõ ràng trong một số bức tranh [[Nhà Tống|triều Tống]]. Các hoạ sĩ Phật giáo nhánh Thiền, [[Lương Khải]] (梁楷), (1140-1210) đã áp dụng phong cách vẽ này trong bức tranh "Bát mặc tiên nhân", tranh đã mô tả chính xác sự hy sinh để loại bỏ [[lý tính]] trong [[cái trí]] của người [[giác ngộ]]. Một họa sĩ cuối đời Tống tên là [[Vũ Kiên]], thông thạo giáo lý [[Thiên Thai tông|Phật giáo Thiên Thai]], đã tạo ra một loạt tranh các cảnh bằng các nét mực đầy chấm phá, phong cách này đã thu hút rất nhiều họa sĩ [[Thiền đạo|Thiền]] người Nhật. Những bức tranh của ông thường tả những ngọn núi phủ sương mù dày đặc, trong đó các hình dạng của các vật thì khó nhìn thấy và cực kỳ giản lược. Kiểu tranh này được tiếp tục bởi [[Sesshu Toyo]] trong những năm sau đó.
[[Tập tin:Enso.jpg|nhỏ|226x226px|''Viên tương'' ( 2000) bởi [[Kanjuro Shibata XX]]]]
Một ví dụ khác của sự trừu tượng trong bức tranh Trung Quốc được nhìn thấy trong bức [[c:File:Zhu_Derun_-_Primordial_Chaos_(painting_only).jpeg|'Hỗn luân đồ]]" của [[Châu Đức Nhuần]]. Bên trái của bức tranh này là một cây thông trên đất đá, các nhánh của nó cuộn bởi những nhành nho, chuyển động hỗn loạn về phía bên kia của bức tranh. Bên phải lại là một vòng tròn hoàn hảo (có thể vòng tròn đã được vẽ bằng [[com-pa]] <ref>Watt, J. C. (2010). ''Thế giới của Hốt Tất Liệt: Nghệ thuật Trung Quốc trong triều đại nhà Nguyên''. Metropolitan Museum of Art, tr. 224</ref>) lơ lửng trong khoảng không. Bức tranh là một sự phản ánh của siêu hình học [[Đạo giáo]], trong đó sự hỗn loạn và thực tế là những trạng thái bổ khuyết của một chu trình tự nhiên bình thường. Dưới thời [[Gia tộc Tokugawa|Tokugawa]], một số thợ sơn Thiền đạo đã tạo ra Enso [[Viên tương|''(Viên tương)'']], một vòng tròn tượng trưng cho sự [[giác ngộ]] tuyệt đối. [[Enso]] thường được thực hiện trong một cú đánh bút tự nhiên, nó trở thành dạng thức của thẩm mỹ tối giản, dẫn dắt một phần quan trọng trong các bức tranh [[thiền]].
 
== Thế kỉ XIX ==
{{main article|Chủ nghĩa lãng mạn|Trường phái Ấn tượng|Hậu ấn tượng|Chủ nghĩa biểu hiện}}
[[Tập tin:James Abbot McNeill Whistler 012.jpg|trái|nhỏ|[[James McNeill Whistler]], ''Dạ khúc Đen và Vàng: Tên lửa rơi'' (1874), Viện Nghệ thuật Detroit. Một bức tranh gần với trừu tượng, năm 1877 Whistler kiện nhà phê bình nghệ thuật John Ruskin đã dám phỉ báng bức tranh. Ruskin lại tố cáo Whistler "đã ném một nồi sơn vào mặt công chúng." <ref>[http://blogs.princeton.edu/wri152-3/rpower/archives/001951.html Whistler và Ruskin, Princeton edu.] [https://web.archive.org/web/20100616062046/http://blogs.princeton.edu/wri152-3/rpower/archives/001951.html Kho dữ liệu] 16 tháng 6, năm 2010, tại máy truy hồi. Truy cập 13 tháng 6, năm 2010</ref> <ref>[http://www.tate.org.uk/britain/exhibitions/turnerwhistlermonet/wvr.htm từ Tate], truy cập 12 tháng 4, năm 2009</ref>]]
Lúc này, các khoản bảo trợ từ nhà thờ đã giảm.  Nguồn cung sinh kế cho các họa sỹ đang dần là các khoản bảo trợ tư nhân đến từ cộng đồng.<ref>Ernst Gombrich, "Dòng họ Medici bảo trợ nghệ thuật" trong ''Tiêu chuẩn và hình mẫu'', tr. 35–57, London, 1966</ref><ref>Judith Balfe. ''Trả tiền cho nghệ sĩ: Nguyên nhân và hệ quả của bảo trợ nghệ thuật'', Ấn bản Đại học Illinois</ref>
 
Những dấu hiệu đầu tiên của một trường phái nghệ thuật mới được họa sĩ [[James McNeill Whistler]] khơi mào. Trong bức tranh ''Dạ khúc Đen và Vàng: Tên lửa rơi'' (1872) của ông, cảm giác thị giác được nhấn mạnh hơn là mô tả sự vật.
 
Các họa sĩ của [[Chủ nghĩa biểu hiện|trường phái Biểu hiện]] đã khám phá ra việc sử dụng những nét sơn dày, vẽ méo mó và phóng đại, cùng với các màu sắc mãnh liệt. Những họa sĩ trường phái này đã vẽ nên những bức tranh giàu xúc cảm. Những bức tranh có thể coi là phản ứng và nhận thức về những sự kiện đương thời; cũng như là lời hồi đáp với [[Trường phái ấn tượng|trường phái Ấn tượng]] và các trường phái khác cổ điển hơn của hội họa vào cuối thế kỷ 19. Những họa sĩ [[Chủ nghĩa biểu hiện|Biểu hiện]] đã làm thay đổi mạnh mẽ từ nhấn mạnh chủ đề sang nhấn mạnh miêu tả các trạng thái tâm lý hiện hữu. Mặc dù các nghệ sĩ như [[Edvard Munch]] và [[James Ensor]] chịu ảnh hưởng lớn từ tác phẩm của [[Hậu ấn tượng|trường phái Hậu Ấn tượng]], họ đã đóng góp lớn cho sự xuất hiện của trường phái trừu tượng vào thế kỷ 20. [[Paul Cézanne]] ban đầu như một người theo [[Trường phái ấn tượng|chủ nghĩa Ấn tượng]], nhưng mục đích của ông - xây dựng hiện thực hợp lý từ góc nhìn nhất định<ref>Herbert Read, ''Lược sử nghệ thuật hiện đại'', Thames and Hudson</ref>, với màu sắc chuyển vần ở trên mặt phẳng - trở thành nền tảng của một
 
loại hình hội họa mới, sau đó được phát triển thành [[Lập thể|chủ nghĩa Lập thể]] của [[Georges Braque]] và [[Pablo Picasso]].
 
Ngoài ra vào cuối thế kỷ XIX ở Đông Âu, [[chủ nghĩa thần bí]] và buổi đầu của [[chủ nghĩa hiện đại]] được thể hiện bởi nhà [[Thuyết thần trí|thần trí]] [[Helena Blavatsky]] đã có một tác động sâu sắc đến các họa sỹ hình học tiên phong như [[Hilma af Klint]] và [[Wassily Kandinsky]]. Giáo lý thần bí của [[George Gurdjieff|Georges Gurdjieff]] và [[P.D. Ouspensky]] cũng đã có một ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành các phong cách trừu tượng hình học của [[Piet Mondrian]] và các đồng nghiệp của ông vào đầu thế kỷ 20. <ref>[http://www.newcriterion.com/articles.cfm/Mondrian---mysticism---ldquo-My-long-search-is-over-rdquo--4237 "Hilton Kramer, "Mondrian & chủ nghĩa huyền bí: cuộc tìm kiếm dài của tôi đã kết thúc", <nowiki>''</nowiki>Tiêu chí mới<nowiki>''</nowiki>, tháng 9 năm 1995"]. Newcriterion.com. Truy cập 26-2-2012.</ref>
 
== Thế kỉ XX ==
[[Tập tin:'Windows Open Simultaneously (First Part, Third Motif)' by Robert Delaunay.JPG|nhỏ|''Cửa số mở đồng loạt'', (phần đầu, motif thứ 3), vẽ bởi Robert Delaunay, sơn dầu trên voan. |278x278px]]
[[Tập tin:1913 Popova Das Modell anagoria.JPG|trái|nhỏ|[[Lyubov Popova]], ''Người mẫu'', 1913. Một bức tranh theo [[Trường phái lập thể|trường phái Lập thể]] |307x307px]]
Mặc dù [[Lập thể|trường phái Lập thể]] rất phụ thuộc vào chủ thể, trường phái này, cùng với [[Trường phái dã thú|Dã thú]], là các phong trào nghệ thuật đã trực tiếp mở ra cánh cửa để bước tới trường phái trừu tượng trong thế kỷ 20. [[Pablo Picasso]] đã tạo ra những bức hoạ đầu tiên của ông dựa trên ý tưởng của [[Paul Cézanne|Cézanne]] rằng tất cả các mô tả về tự nhiên có thể được giản lược còn ba khối rắn: [[Khối lập phương|hình lập phương]] , [[hình cầu]] và [[hình nón]]. Với bức tranh ''Các cô gái ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon)'' (1907), Picasso đã mô tả trần trụi cảnh nhà thổ thô sơ với năm cô gái bán dâm. Ông vẽ các phụ nữ một cách bạo liệt, có thể gợi đến các [[mặt nạ thổ dân châu Phi]] và thể hiện sáng tạo [[Lập thể]] mới của ông. [[Lập thể|Lập thể phân tích]] được Pablo Picasso và Georges Braque cùng phát triển trong khoảng năm 1908 đến năm 1912. Trường phái [[Lập thể|Lập thể phân tích]] là biểu hiện rõ ràng đầu tiên của trường phái [[Lập thể]], theo sau đó là [[Lập thể|Lập thể tổng hợp]] với các họa sĩ Braque, [[Pablo Picasso|Picasso]], [[Fernand Léger]], [[Juan Gris]], [[Albert Gleizes]], [[Marcel Duchamp]] và một số người khác vào những năm 1920. [[Lập thể|Lập thể tổng hợp]] được đặc trưng bởi đi đầu trong sử dụng các kết cấu, bề mặt khác nhau, các yếu tố ''chắp nối'', kỹ thuật ''[[papier collé]]'' và các chủ đề hỗn hợp đa dạng. Dù cấu tạo từ các phần rời rạc hay chắp nối, nhưng khi tập hợp lại, chúng có thể tạo nên bức tranh ở một tầm mới. Một số họa sĩ ''chắp nối'' như [[Kurt Schwitters]] và [[Man Ray]] và một số họa sĩ khác lấy gợi ý từ trường phái Lập thể đã góp phần sự phát triển của phong trào mỹ thuật với tên gọi [[Dada]].
 
Nhà thơ người Ý [[Filippo Tommaso Marinetti]] xuất bản ''Tuyên ngôn Vị lai'' (''Manifesto del Futurismo)'' vào năm 1909, cuốn sách sau đó đã truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ như [[Carlo Carra]] trong bức ''Vẽ giữa tiếng động, tiếng ồn và mùi hôi'' và [[Umberto Boccioni]] với bức ''Tàu chuyển bánh'', 1911, tới một giai đoạn trừu tượng hơn nữa, cùn với [[Lập thể|trường phái Lập thể]], những phong trào nghệ thuật này có ảnh hưởng sâu sắc khắp Châu Âu <ref>Caroline Tisdall và Angelo Bozzolla, ''Trường phái Vị lai'', Thames và Hudson, 1977</ref>.
[[Tập tin:Delaunay ChampDeMars.jpg|trái|nhỏ|287x287px|[[Robert Delaunay]], ''Champs de Mars. La Tour rouge.'' 1911. Một bức tranh theo [[trường phái oóc-phê]].]]
Trong ''Salon de la Section d'Or'' năm 1912, nhà thơ [[Guillaume Apollinaire]] đã đặt tên cho tác phẩm của nhiều họa sĩ ,trong đó có Robert, là [[trường phái óoc-fê]] (''Orphism'') <ref>''La Section d'or, 1912-1920-1925'', Cécile Debray, Françoise Lucbert, Musées de Châteauroux, Musée Fabre, ca-ta-lô trưng bày, Éditions Cercle d'art, Paris, 2000</ref>. Ông đã định nghĩa nó là, ''nghệ thuật vẽ các cấu trúc mới không được lấy từ thị giác thông thường, mà được tạo ra hoàn toàn bởi các họa sĩ ... đây là mỹ thuật thuần khiết'' <ref>Harrison và Wood, ''Lý thuyết hội họa, 1900–2000'', Wiley-Blackwell, 2003, tr. 189. <nowiki>ISBN 978-0-631-22708-3</nowiki>.[https://books.google.com/books?id=SWu4SB92fHMC&pg=PA189&dq=Apollinaire+on+Art books.google.com]</ref>.
 
Kể từ đầu thế kỷ 20, các mối quan hệ văn hoá giữa các họa sĩ giữa các thành phố lớn ở châu Âu trở nên cực kỳ năng động khi họ cố gắng tạo ra một hình thức nghệ thuật tương xứng với nguyện vọng cao cho [[Chủ nghĩa hiện đại|chủ nghĩa Hiện đại]]. Các ý tưởng có thể được trao đổi chéo nhau qua sách vở, triển lãm và các phát biểu của các họa sĩ để nhiều nguồn có thể được khơi ra cho thử nghiệm và thảo luận, giúp tạo cơ sở cho các phương thức trừu tượng đa dạng. Đoạn trích sau đây trong cuốn ''Thế giới nhìn lại'' cho thấy sự liên kết văn hoá vào thời điểm đó ấn tượng ra sao: "Kiến thức của [[David Burliuk]] về các phong trào mỹ thuật hiện đại hẳn là rất cập nhật, cuộc [[triển lãm "Con Bồi Rô"]] lần thứ hai vào tháng 1 năm 1912 (tổ chức ở [[MoscowMoskva]]) không chỉ có những bức tranh được gửi từ [[Munich]], mà còn có tranh một số thành viên của nhóm ''Cây cầu (Die Brücke)'' ở Đức, trong khi tới từ Paris là các bức họa vẽ bởi [[Robert Delaunay]], [[Henri Matisse]] và [[Fernand Léger]], cũng như [[Pablo Picasso|Picasso]]. Vào mùa xuân, [[David Burliuk]] đã có bài giảng về chủ nghĩa Lập thể và ông lên kế hoạch đăng các bài tranh biện trên báo, với ngân quỹ từ triển lãm "Con Bồi Rô". Ông ra nước ngoài vào tháng 5 và trở lại với quyết tâm cạnh tranh ấn phẩm với ''Niên biểu [[Der Blaue Reiter]]-''được xuất bản khi ông còn ở Đức ". <ref name=":0">Susan P Compton, ''Thế giới nhìn lại'', Ấn bản bảo tàng Anh, London, 1978</ref>
 
Từ năm 1909 đến năm 1913, nhiều tác phẩm thử nghiệm trên đường tìm kiếm 'nghệ thuật thuần khiết' được vẽ ra bởi: [[Hilma af Klint]]; [[Francis Picabia]] với [[Caoutchouc|''Cao su'']], 1909, <ref>[http://francispicabia.org/?page_id=80 "Francis Picabia, Caoutchouc, 1909, MNAM, Paris"]. Francispicabia.org. Truy cập 29-9-2013</ref> ''Mùa Xuân'', 1912, <ref>[http://www.moma.org/collection/provenance/provenance_object.php?object_id=80658 "Museum of Modern Art, New York, Francis Picabia, <nowiki>''The Spring''</nowiki>, 1912"]. Moma.org. Truy cập 29-9-2013.</ref> ''Vũ điệu mùa xuân'' <ref>[http://www.moma.org/collection/provenance/provenance_object.php?object_id=80659 "MoMA, New York, Francis Picabia, <nowiki>''Dances at the Spring''</nowiki>, 1912"]. Moma.org. Truy cập 29-9-2013.</ref> và ''Diễu hành, Seville'', 1912. <ref>[http://www.nga.gov/fcgi-bin/tinfo_f?object=92380.0&detail=none "National Gallery of Art, Washington, DC., Francis Picabia, The Procession, Seville, 1912"]. Nga.gov. Truy cập 29-9-2013.</ref> Wassily Kandinsky thì vẽ bức ''Không đề'' (''Trừu tượng màu nước đầu tiên''), 1910. <ref>Stan Rummel (13-12-2007). [https://web.archive.org/web/20120719021713/http://faculty.txwes.edu/csmeller/Human-Prospect/ProData09/02WW1CulMatrix/WW1PICs/Kandinsky1866/Kand1910FrstAbstr444.htm "Wassily Kandinsky, <nowiki>''Untitled''</nowiki> (First Abstract Watercolor), 1910"]. Faculty.txwes.edu. Được lưu [http://faculty.txwes.edu/csmeller/Human-Prospect/ProData09/02WW1CulMatrix/WW1PICs/Kandinsky1866/Kand1910FrstAbstr444.htm nguyên bản] vào 19-07-2012. Truy cập 29-9-2013</ref> <ref>[https://web.archive.org/web/20120718222119/http://www.guggenheim.org/images/content/New_York/press_room/presskits/kandinsky_presskit.pdf "The Fiftieth Anniversary of the Guggenheim Museum, Kandinsky Retrospective, Guggenheim Museum, New York, 2009"] (PDF). Được lưu [http://www.guggenheim.org/images/content/New_York/press_room/presskits/kandinsky_presskit.pdf nguyên bản] (PDF) vào 18-7-2012. Truy cập 29-9-2013.</ref> František Kupka đã vẽ những tác phẩm theo [[trường phái óoc-fê]], ''Đĩa của Newton'' (Nghiên cứu cho tẩu pháp bằng hai màu), 1912 <ref>[http://www.philamuseum.org/collections/permanent/51038.html "Philadelphia Museum of Art, Disks of Newton (Study for "Fugue in Two Colors") 1912"]. Philamuseum.org. Truy cập 29-9-2013.</ref> và ''Amorpha, Fugue en deux'' <ref name=":0" /> (Tẩu pháp trong hai màu), 1912; Roberto Delaunay đã vẽ một loạt tranh có tựa đề ''Cửa sổ mở đồng loạt'' và ''Hình tròn, Soleil n ° 2'' (1912-13); <ref>[https://web.archive.org/web/20120907020700/http://www.centrepompidou.fr/education/ressources/ens-futurisme2008/ENS-futurisme2008-10-orphisme.html "Musée National d<nowiki>'Art Moderne, Centre Georges Pompidou, Paris, Robert Delaunay, ''Formes Circulaires, Soleil n°2''</nowiki> (1912–13)"] (inbằng tiếng FrenchPháp). Centrepompidou.fr. Được lưu [http://www.centrepompidou.fr/education/ressources/ens-futurisme2008/ENS-futurisme2008-10-orphisme.html nguyên bản] vào 7 tháng 9, năm 2012. Truy cập 29-9-2013.</ref>[[Léopold Survage]] thì vẽ ''Nhịp điệu màu'' (Nghiên cứu cho dùng phim), 1913; <ref>[http://www.moma.org/collection/browse_results.php?criteria=O%3AAD%3AE%3A5735&page_number=&template_id=6&sort_order=1 "Museum of Modern Art, New York, Léopold Survage, Colored Rhythm (Study for the film) 1913"]. Moma.org. 15-7-1914. Truy cập 29-9-2013.</ref> [[Piet Mondrian]] vẽ ''Tableau No. 1'' và ''Sáng tác số 11'', 1913. <ref>[https://web.archive.org/web/20131002185216/http://www.kmm.nl/collection-search.php?reload=1&characteristic_type=Painting&artist=Piet+Mondriaan+%281872+-+1944%29&van=0&tot=0&submit.x=51&submit.y=5 "Rijksmuseum Kröller-Müller, Otterlo, Netherlands, Piet Mondrian, 1913"]. Kmm.nl. Được lưu [http://www.kmm.nl/collection-search.php?reload=1&characteristic_type=Painting&artist=Piet+Mondriaan+%281872+-+1944%29&van=0&tot=0&submit.x=51&submit.y=5 nguyên bản] vào 2 tháng 10, năm 2013. Truy cập 29-9-2013.</ref>
 
Các cuộc tìm kiếm vẫn tiếp tục: Các bức vẽ theo [[Trường phái ‘toả tuyến’|trường phái Toả tuyến]] (''Rayonnism'') của [[Natalia Goncharova]] và [[Mikhail Larionov]], đã sử dụng các đường nét như những tia sáng để họa nên tác phẩm. [[Kazimir Malevich|Kasimir Malevich]] thì hoàn thành tác phẩm trừu tượng toàn phần đầu tiên của mình, theo [[trường phái Tuyệt đỉnh]] (''Suprematism''), 'Hình vuông đen', vào năm 1915. Một trong những họa sĩ theo trường này nữa là [[Liubov Popova]], bà đã vẽ nên loạt tranh ''Kiến tạo cấu trúc'' và ''Kiến tạo không gian'' vào giữa các năm 1916 và 1921. [[Piet Mondrian]] cũng phát triển ngôn ngữ trừu tượng bằng các đường ngang, dọc với hình chữ nhật tô màu, vào khoảng giữa năm 1915 và năm 1919 tạo nên [[trường phái Tân tạo hình]] ''(Neo-Plasticism).'' Trường phái này được [[Piet Mondrian|Mondrian]], [[Theo van Doesburg]] và các thành viên nhóm [[De Stijl]] theo đuổi với dự định thay đổi môi trường nghệ thuật trong tương lai
== Âm nhạc ==
[[Tập tin:Vassily Kandinsky, 1923 - On White II.jpg|nhỏ|254x254px|[[Wassily Kandinsky]], ''Trên nền trắng II'' (1923)]]
Khi nghệ thuật thị giác trở nên trừu tượng hơn, mỹ thuật cũng phát triển một số đặc tính của âm nhạc: đó là sử dụng các yếu tố trừu tượng của âm thanh và sự phân tách của thời gian. [[Wassily Kandinsky]], mà thực ra là một nhạc sĩ không chuyên, <ref>Shawn, Allen. 2003. ''[https://books.google.com/books?id=qgqp5-EqEw8C&pg=PA62&dq= Chuyến thám hiểm của Arnold Schoenberg]''. Ấn phẩm đại học Harvard. tr. 62. ISBN 0674011015</ref> <ref>François Le Targat, ''Kandinsky'', Sê-ri tranh các bậc thầy thế kỷ XX, Random House Incorporated, 1987, tr. 7, ISBN 0847808106</ref> <ref>Susan B. Hirschfeld, [[Bảo tàng Guggenheim|Bảo tàng Solomon R. Guggenheim]], Quỹ Hilla von Rebay, Tranh màu nước của Kandinsky tại Bảo tàng Guggenheim: được tuyển chọn từ [[Bảo tàng Solomon R. Guggenheim]] và Quỹ Hilla von Rebay, 1991. Năm 1871 gia đình chuyển đến Odessa, Kandinsky trẻ tuổi đã tham dự trường Trung học và học chơi cello và piano.</ref> lấy cảm hứng từ khả năng sử dụng các dấu ấn và màu kết hợp để tạo ''tiếng vọng cho tâm hồn''. Ý tưởng này được đưa ra bởi [[Charles Baudelaire|Charles Baudelaire,]], rằng tất cả các giác quan của chúng ta đáp ứng với các kích thích khác nhau nhưng được kết nối ở một mức độ thẩm mỹ sâu sắc hơn.
 
Liên quan chặt chẽ đến điều này, là ý tưởng rằng nghệ thuật có ''chiều không gian linh hồn'' và vượt trên những trải nghiệm "hàng ngày", đạt đến một cảnh giới tinh thần mới. [[Thuyết thần trí|Hiệp hội Thần trí]] thì phổ biến trí tuệ cổ xưa trong các thánh thư của Ấn Độ và Trung Quốc trong những năm đầu của thế kỷ. Trong bối cảnh này, [[Piet Mondrian]], [[Wassily Kandinsky]], [[Hilma af Klint]] và các nghệ sĩ khác đang sáng tác theo 'trạng thái ''không'' vật thể' trở nên quan tâm đến huyền bí như là một cách để nhìn vào nội tâm con người. Các hình dạng phổ quát và phi thời gian tìm thấy trong hình học: [[hình tròn]], [[hình vuông]] và [[Tam giác|hình tam giác]] trở thành các yếu tố không gian trong nghệ thuật trừu tượng; chúng giống như màu sắc, là các cốt yếu nằm dưới thực tế hữu hình.
 
== Trường Mỹ thuật Bauhaus ==
[[Bauhaus|Trường Mỹ thuật Bauhaus]] được thành lập bởi Walter Gropius vào năm 1919 tại [[Weimar]], [[Đức]]. <ref>Walter Gropius , ''Bauhaus 1919–1928.'' Herbert Bayer, Ấn phẩm Bảo tàng Mỹ thuật hiện đại. Charles T Banford, Boston, 1959</ref> Triết lý của chương trình giảng dạy là nhất thống tất cả các [[nghệ thuật thị giác]] và [[Tạo hình|nghệ thuật tạo hình]] từ [[kiến trúc]] và [[hội họa]]. Triết lý này đã phát triển từ những ý tưởng của [[trào lưu Nghệ thuật Thủ công]] ở Anh và ''[[Deutscher Werkbund]]''. Một số giáo viên có thể kể đến như [[Paul Klee]], [[Wassily Kandinsky]], [[Johannes Itten]], [[Josef Albers]], [[Anni Albers]] và [[László Moholy-Nagy]]. Năm 1925 trường được di dời đến [[Dessau]]. Đến năm 1932, khi [[Đức Quốc |đảng Quốc xã]] nắm quyền kiểm soát, Bauhaus bị buộc phải đóng cửa. Năm 1937, cuộc triển lãm mỹ thuật ''"thoái hóa"'' (cụm từ [[Đức Quốc |đảng Quốc xã]] dành cho [[mỹ thuật hiện đại]]), 'Entartete Kunst' đã trưng bày tất cả các loại hình [[mỹ thuật tiên phong]] bị [[Đức Quốc |đảng Quốc xã]] cấm đoán. Tuy nhiên, dưới áp lực của [[Đức Quốc Xã|Đức Quốc xã]], giới họa sĩ, không chỉ riêng ở [[Bauhaus]] mà cả Châu Âu nói chung, phải di tản đi khắp nơi, như đến [[Paris]], [[Luân Đôn|London]] và [[Hoa Kỳ|Mỹ]]. [[Paul Klee]] đến Thụy Sĩ nhưng nhiều họa sĩ ở [[Bauhaus]] thì tới [[Hoa Kỳ|Mỹ]].
 
== Trường phái trừu tượng ở London và Paris ==
[[Tập tin:Taeuber-Arp-quatre-espaces-a-cercles-rouges-roulants-1932-gouache-papier.svg|nhỏ|229x229px|''Bốn khoảng trống với vòng tròn lăn'', tranh của Taeuber Arp, 1932, màu bột trên giấy]]
Trong những năm 1930, Paris trở thành ngôi nhà của các họa sĩ đến từ [[Nga]], [[Đức]], [[Hà Lan]] và các nước [[châu Âu]] khác đang chịu áp lực từ sự trỗi dậy của các [[Chủ nghĩa toàn trị|nhà nước chuyên chế]]. [[Sophie Tauber]] và [[Jean Arp]] hợp tác trong sáng tác về hội họa và điêu khắc với các khuôn mẫu hữu cơ/hình học. [[Katarzyna Kobro]] của Ba Lan lại áp dụng những ý tưởng trên nền tảng toán học để điêu khắc. Rất nhiều loại hình trừu tượng lúc này khiến các nghệ sĩ cố gắng phân tích rất nhiều các khái niệm và thẩm mỹ. Một triển lãm của 46 thành viên trong nhóm [[Cercle et Carré|''Cercle et Carré'']] được tổ chức bởi [[Joaquin Torres-Garcia]] <ref>Seuphor, Michel (1972). ''Trừu tượng hình học 1926-1949''. Dallas Museum of Fine Arts.</ref> với sự trợ giúp của [[Michel Seuphor]] <ref>Michel Seuphor, ''Tranh trừu tượng''</ref> đã trưng bày các tác phẩm của [[trường phái Tân tạo hình]]; cũng như một số tác phẩm trừu tượng đa dạng từ các họa sĩ như như [[Wassily Kandinsky|Kandinsky]], [[Anton Pevsner]] và [[Kurt Schwitters]] . [[Theo van Doesburg]] đã phê bình triển lãm là quá vô định. Trong một bộ sưu tập được ông xuất bản trên tạp chí ''Art Concret'', ông đưa ra một định nghĩa một nghệ thuật trừu tượng là các đường nét, màu sắc và bề mặt tạo nên một hiện thực cụ thể. <ref>Anna Moszynska, ''Mỹ thuật Trừu tượng'', tr.104, Thames và Hudson, 1990</ref>''Abstraction-Création'' được thành lập vào năm 1931 lại là một nhóm mở hơn, cung cấp các tham khảo cho các họa sỹ trừu tượng. Khi tình hình chính trị trở nên tệ hơn vào năm 1935, các họa sĩ dần tập trung lại, với nhiều người ở [[Luân Đôn|London]]. Triển lãm đầu tiên về nghệ thuật trừu tượng của Vương quốc Anh được tổ chức tại Anh vào năm 1935. Một năm sau, triển lãm "Trừu tượng và hội họa Cụ thể Quốc tế" được tổ chức bởi Nicolete Gray trưng bày các tác phẩm của [[Piet Mondrian]], [[Joan Miró]], [[Barbara Hepworth]] và [[Ben Nicholson.]] Hepworth, Nicholson và Gabo sau đó chuyển đến nhóm [[St. Ives]] ở [[Cornwall]] để tiếp tục các tác phẩm theo [[trường phái Kiến tạo]] của họ. <ref>Anna Moszynska, ''Mỹ thuật Trừu tượng'', Thames và Hudson, 1990</ref>
 
== Mỹ: giữa thế kỷ XX ==
[[Tập tin:Piet Mondriaan, 1939-1942 - Composition 10.jpg|trái|nhỏ|243x243px|[[Piet Mondrian|Piet Mondriaan]], 1939-1942, ''Sáng tác số 10'']]
Trong thời kì [[Đức Quốc Xã|Đức Quốc xã]] đang bành trướng quyền lực vào những năm 1930, nhiều nghệ sĩ đã rời khỏi Châu Âu đến Hoa Kỳ. Vào đầu những năm 1940, những trường phái chính trong mỹ thuật hiện đại, như [[Chủ nghĩa biểu hiện|trường phái biểu hiện]], [[Lập thể|chủ nghĩa lập thể]], trừu tượng, [[Chủ nghĩa siêu thực|siêu thực]] và [[dada]] đã được thể hiện ở New York: [[Marcel Duchamp]], [[Fernand Léger]], [[Piet Mondrian]], [[Jacques Lipchitz]], [[André Masson]], [[Max Ernst]], [[André Breton]], là số ít người châu Âu lưu vong đến New York. <ref>Gillian Naylor, ''The Bauhaus'', Studio Vista, 1968</ref> Nền văn hóa phong phú ở đây được các nghệ sỹ châu Âu mang đến đã được các họa sỹ "bản địa" ở [[Thành phố New York|New York]] cô đọng và củng cố. Không khí tự do ở New York cho phép tất cả những ảnh hưởng này phát triển. Các phòng trưng bày nghệ thuật vốn chủ yếu tập trung vào mỹ thuật Châu Âu đã bắt đầu chú ý đến cộng đồng mỹ thuật địa phương và tác phẩm của các họa sỹ Mỹ trẻ đang dần trưởng thành. Một số họa sĩ thời điểm này đã đưa sự trừu tượng rõ ràng vào các tác phẩm của họ. Trong giai đoạn này, bức tranh của [[Piet Mondrian]] ''Sáng tác số 10'', khoảng năm 1939-1942, được đặc trưng bởi các màu cơ bản, nền trắng và các đường lưới màu đen rõ ràng xác định cách tiếp cận đột phá nhưng cổ điển của ông đối với hình chữ nhật và mỹ thuật trừu tượng nói chung. Một số nghệ sĩ của giai đoạn này đã thách thức sự phân loại thông thường, chẳng hạn như [[Georgia O'Keeffe]] lúc là một họa sĩ trừu tượng theo [[Chủ nghĩa hiện đại|trường phái Hiện đại]]; cô là một người phá cách thuần túy vì đã vẽ các hình thức trừu tượng cao nhưng không có thể xếp vào bất kỳ nhóm cụ thể nào của thời kỳ này.
 
Cuối cùng, các họa sĩ Mỹ đang làm việc với các phong cách vô cùng đa dạng dần hợp nhất thành các nhóm phong cách cô đọng. Nhóm họa sĩ nổi tiếng nhất của Mỹ đã được biết đến là các nhà mỹ thuật [[Trừu tượng Biểu hiện]] và [[trường phái New York]]. [[Thành phố New York|New York]] cho các họa sĩ không khí để tích cực thảo luận và tìm ra cơ hội mới để học hỏi và phát triển. Các họa sỹ và giáo viên như [[John D. Graham]] và [[Hans Hofmann]] đã trở thành những cây cầu quan trọng nối giữa những người theo [[Chủ nghĩa hiện đại|chủ nghĩa Hiện đại]] châu Âu mới đến và các họa sĩ trẻ người Mỹ đang dần tới độ chín. [[Mark Rothko]], sinh ra ở Nga, bắt đầu với tranh [[Chủ nghĩa siêu thực|siêu thực]], rồi sau đó chuyển thành các tác phẩm với màu sắc mạnh mẽ vào đầu những năm 1950. Lối vẽ [[Trừu tượng Hành động]] (''Action painting'') và chính hoạt động vẽ tranh, thì trở nên tối quan trọng đối với một số họa sĩ như [[Jackson Pollock]], [[Robert Motherwell]], và [[Franz Kline]]. Vào những năm 40, các tác phẩm minh họa của [[Arshile Gorky]] và [[Willem de Kooning]] phát triển thành trừu tượng vào cuối thập kỷ. [[Thành phố New York]] đã trở thành trung tâm, thu hút các họa sỹ trên toàn thế giới; và cả từ những nơi khác ở Mỹ nữa. <ref>Henry Geldzahler, ''Điêu khắc và Mỹ thuật New York: 1940–1970'', Metropolitan Museum of Modern Art, 1969</ref>
 
== Bộ sưu tập tranh ==
<gallery widths="170" heights="170" perrow="4">
Tập tin:Arthur Dove, 1911-12, Based on Leaf Forms and Spaces, pastel on unidentified support. Now lost.jpg|[[:en:Arthur_DoveArthur Dove|Arthur Dove]], 1911–12, ''Sáng tạo trên hình lá và khoảng trống'', màu bột. Nay tranh đã thất lạc
Tập tin:Vassily Kandinsky, 1912 - Improvisation 27, Garden of Love II.jpg|[[:en:Wassily_KandinskyWassily Kandinsky|Wassily Kandinsky]], 1912, ''Ứng tác số 27'' (Vườn tình II), sơn dầu trên voan, 120.3 x 140.3&nbsp;cm, [[:en:Metropolitan_Museum_of_ArtMetropolitan Museum of Art|Bảo tàng Trung tâm]], New York. Trưng bày tại 1913 [[:en:Armory_ShowArmory Show|Triển lãm Armory]]
Tập tin:Vassily Kandinsky, 1913 - Composition 6.jpg|[[Wassily Kandinsky]], ''Sáng tác số VI'' (1913)
Tập tin:Vassily Kandinsky, 1913 - Color Study, Squares with Concentric Circles.jpg|[[Wassily Kandinsky]], ''Hình vuông với vòng tròn đồng tâm'' (1913)
Tập tin:Hilma af Klint Svanen.jpg|[[:en:Hilma_af_KlintHilma af Klint|Hilma af Klint]], ''Svanen'' (''Thiên nga''), số 17, nhóm IX, Chùm tranh SUW, Tháng 10 1914-tháng 3 năm 1915. Tác phẩm này chưa bao giờ được trưng bày khi Klint còn sống.
Tập tin:Theo van Doesburg Composition VII (the three graces).jpg|[[:en:Theo_van_DoesburgTheo van Doesburg|Theo van Doesbur''g'']]'', [[:en:Neo-Plasticism|Neo-Plasticism]]: 1917, Sáng tạo VII (Bộ ba duyên dáng'')
Tập tin:Piet Mondrian - Lozenge Composition with Yellow, Black, Blue, Red, and Gray - 1921 - The Art Institute of Chicago.jpg|[[:en:Piet_MondrianPiet Mondrian|Piet Mondrian]], ''Sáng tạo với vàng, đen, xanh, đỏ, và xám'', 1921, [[:en:Art_Institute_of_ChicagoArt Institute of Chicago|Viện Mỹ thuật Chicago]]
Tập tin:Fire in the Evening.JPG|[[:en:Paul_KleePaul Klee|Paul Klee]], ''Lửa đêm'', 1929
Tập tin:Carlsund Rapid (1930).jpg|[[:en:Otto_Gustaf_CarlsundOtto Gustaf Carlsund|Otto Gustaf Carlsund]], ''Liên hoàn'' (1930), [[:en:Concrete_ArtConcrete Art|tranh trường phái Cụ thể]] treo trong nhà hàng, Stockholm
Tập tin:Umberto Boccioni, 1912, Elasticity (Elasticità), oil on canvas, 100 x 100 cm, Museo del Novecento.jpg|Umberto Boccioni, 1912, ''Sự co dãn'' (''Elasticità''), sơn dầu trên voan, 100 x 100 &nbsp;cm, [[Museo del Novecento]]
Tập tin:Juan Gris - Portrait of Pablo Picasso - Google Art Project.jpg|Juan Gris, ''Chân dung Pablo Picasso'', 1912, sơn dầu trên voan, Viện Nghệ thuật Chicago
Tập tin:Riteofspring.jpg|[[Ronnie Landfield]], ''Nghi lễ mùa xuân,'' 1985