Khác biệt giữa các bản “Từ Văn Bê”

không có tóm lược sửa đổi
n (→‎top: clean up using AWB)
|năm phục vụ= [[1953]]-[[1975]]
|cấp bậc= [[Hình: US-O7 insignia.svg|16px]] [[Chuẩn tướng]]
|đơn vị= [[Hình: Fatherland - Space.png|22px20px]] [[Không lực Việt Nam Cộng hòa|Không quân VNCH]]
|chỉ huy= [[Hình: Flag of the Vietnamese National Army.svg|22px20px]] [[Quân đội Quốc gia Việt Nam|Quân đội Quốc gia]]<br>[[Hình:Flag of the South Vietnamese Army.jpg|22px20px]] [[Quân lực Việt Nam Cộng hòa|Quân lực VNCH]]
|tham chiến= [[Chiến tranh Việt Nam]]
}}
 
==Tiểu sử & Binh nghiệp==
Ông sinh ngày 31 tháng 10 năm 1931 trong một gia đình điền chủ khá giả có nguồn gốc là người Hoa tại Long Xuyên (An Giang), miền tây Nam phần Việt Nam. Thiếu thời ông học ở trường Tiểu học Long Xuyên. Khi học lên trên, ông được gia đình gửi sang Cần Thơ học ở trường Trung học College de Cantho.<ref>Trường Trung học Đệ Nhất cấp ''(nay là Trung học Cơ sở hoặc cấp II)'' College Cantho, sau đổi tên thành trường Trung học Phan Thanh Giản.</ref> Năm 1949 thi đậu bằng Thành chung. Chuyển lên Sài Gòn học tiếp ở trường Trung học Lycée Chasseluop Laubat Saigon.<ref>Trường Trung học Đệ Nhị cấp ''(nay là Trung học Phổ thông hoặc cấp III)'' Lycée Chasseluop Saigon, sau đổi tên thành Trường Trung học Lê Quý Đôn.</ref> Năm 1953, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài toàn phần (Part II).
 
===Quân đội Quốc gia Việt Nam===
 
===Quân đội Việt Nam Cộng hòa===
Tháng 7 năm 1955, ông tốt nghiệp với cấp bậc [[Thiếu úy]] hiện dịch. Về nước, phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hoa do Chính thể Đệ nhất Cộng hòa đổi tên từ Quân đội Quốc gia, ông được giữ chức Phụ tá Kỹ thuật thuộc Phi đoàn 1 Tác chiến và Liên lạc ở Nha Trang<ref>Phi đoàn 1 Tác chiến và Liên lạc là tiền thân của Sư đoàn 2 Không quân sau này.</ref> do Đại úy [[Đinh Văn Chung (Đại tá, Quân lực VNCH)|Đinh Văn Chung]]<ref>TốtĐại uý Đinh Văn Chung tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sauSau cùng: Đại tá Tham mưu phó Chiến tranh Chính trị tại Bộ Tư lệnh Không quân).</ref> làm Chỉ huy trưởng.
 
Đầu năm 1956, ông là sĩ quan cơ khí của Phi đoàn 1 thay thế Trung úy [[Lê Văn Khương (Đại tá, Quân lực VNCH)|Lê Văn Khương]].<ref>Trung uý Lê Văn Khương sau cùng mang cấp Đại tá.</ref> Tháng 12 cùng năm, ông được thăng cấp [[Trung úy]] và được cử làm Trưởng phòng Kỹ thuật của Phi đoàn Khu trục<ref>Phi đoàn Khu trục được thành lập vào ngày 1 tháng 6 năm 1956 tại Biên Hòa.</ref> do Đại úy [[Huỳnh Hữu Hiền (Đại tá, Quân lực VNCH)|Huỳnh Hữu Hiền]]<ref>TốtĐại uý Huỳnh Hữu Hiền sinh năm 1930, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Nam Định. Nguyên tư lệnh Không quân 1962(1961-1963). Giải ngũ cuối năm 1963).</ref> làm Chỉ huy trưởng.
 
Giữa năm 1958, ông được thăng cấp [[Đại úy]], bàn giao chức vụ Trưởng phòng Kỹ thuật lại cho Đại úy [[Dương Xuân Nhơn (Đại tá, Quân lực VNCH)|Dương Xuân Nhơn]].<ref>CấpĐại bậcuý Dương Xuân Nhơn sau cùng: mang cấp Đại tá.</ref> Sau đó được cử đi du học tu nghiệp tại căn cứ Không quân Hoa Kỳ Clark ở Philippines. Mãn khóa về nước ông được cử giữ chức Giám đốc Công xưởng Biên Hòa thay thế Đại úy Lê Văn Khương.
 
Cuối năm 1963, sau cuộc đảo chính Tổng thống [[Ngô Đình Diệm]] (1 tháng 11). Ngày 5 tháng 11, ông được thăng cấp [[Thiếu tá]] tại nhiệm. Đầu tháng 2 năm 1964, sau cuộc [[Cuộc chỉnh lý tại Việt Nam Cộng hòa 1964|Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1]] với các tướng lãnh trong [[Hội đồng Quân nhân Cách mạng (Việt Nam Cộng hòa)|Hội đồng Quân Nhân Cách mạng]] để lên nắm quyền lãnh đạo của tướng [[Nguyễn Khánh]], Công xưởng Không quân Biên Hòa được cải danh thành Không đoàn Kỹ thuật và Tiếp vận đồng thời chức vụ Giám đốc Công xưởng cũng được cải danh thành chức vụ Tư lệnh Không đoàn. Ông trở thành Tư lệnh đầu tiên của Không đoàn Kỹ thuật và Tiếp vận.