Mở trình đơn chính

Các thay đổi

n
không có tóm lược sửa đổi
Thủy quân triều Nguyên khởi đầu khi chuẩn bị chiến tranh diệt Tống, cụ thể vào năm 1270 Mông Cổ mệnh Lưu Chỉnh gây dựng thủy quân quy mô lớn. Trong trận Tương Phàn, thủy quân và lục quân Nguyên hiệp đồng bao vây Tương Dương. Sau khi Nguyên chiếm thành, hàng tướng Lã Văn Hoán lãnh đạo thủy quân cùng lục quân theo bờ sông hiệp đồng trong trận Đinh Gia Châu, đánh tan thủy quân tinh nhuệ của Nam Tống. Sau đó, Trương Hoằng Phạm đem thủy quân Nguyên vượt biển về phía nam truy kích hải quân Nam Tống, cuối cùng tiêu diệt trong Hải chiến Nhai Sơn. Do vậy, thủy quân Nguyên trong chiến tranh diệt Tống có chức năng trọng yếu. Triều Nguyên dung hợp kỹ thuật hàng hải của Nam Tống và Ả Rập, khiến kỹ thuật hải quân thêm thành thục. Tuy nhiên trong đối ngoại, Chiến tranh Nguyên-Nhật và Chiến tranh Nguyên-Java kết thúc với thất bại của Nguyên, chỉ thắng lợi trong chiến tranh với Chiêm Thành<ref name="元朝軍事"/>.
 
* Lãnh thổ Đại Việt (An Nam) nằm tại miền bắc Việt Nam ngày nay, từ thời [[Ngũ Đại Thập Quốc|Ngũ Đại]]-Bắc Tống đã độc lập với Trung Hoa. Mông Kha Hãn vào năm 1257 phái [[Ngột Lương Hợp Thai]] tiến công Đại Việt (thời [[nhà Trần|Trần]]), [[Chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt|Chiến tranh Mông-Việt]] bùng phát. Sau khi [[Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 1|kết thúc giao tranh]], quân Mông Cổ thua lui về [[Vân Nam]], nhưng [[Trần Thái Tông]] xưng thần trên danh nghĩa với Mông Cổ, được Mông Kha Hãn phong làm An Nam quốc vương. Tuy nhiên, TrầnMông ThánhCổ Tôngvẫn sauchưa khibỏ kếmộng vịchinh không muốn xưng thần với Nguyên. Đương thời phía nam củaphạt Đại Việt có nước Chiêm Thành, nămhọ 1282tiếp Quốctục vươngđưa Chiêmra Thànhnhiều yêu Indravarmansách IVđòi khiểnTrần sứThái triềuTông cống triềucon Nguyên, Nguyên[[Trần ThếThánh TổTông]] nhânphải đó đặtkhai Kinhdân Hồsố, Chiêmgửi Thành hành trungquân thưchi tỉnhviện, cho A Lý Hải Nha làm bình chương chínhchịu sự. Dogiám Chiêmsát Thànhcủa câuquan lưudarugachi, sứđích giảthân củasang Nguyênchầu,... Nguyênnhững Thếđiều Tổkhoản dựanày vàophần đónày phátnhiều binhbị phâncác thủyvua bộ tiến công. Ông bổ nhiệm Toa Đô suất thủy quânTrần từ Quảngchối. ChâuTình vượthình biểncàng côngcăng kíchthẳng Chiêm Thành. Nămhơn sau, thủykhi quânTrần MôngThánh CổTông đánhnhường hạngôi thànhcho [[Trần IndravarmanNhân IVTông]] cứnăm thủ, Indravarman IV cầu hòa, song sau khi Mông Cổ thoái quân lại giết sứ giả[28]1278. Năm 1284, Nguyên Thế Tổ phái Trấn Nam vương [[Thoát Hoan]], A Lý Hải Nha và Toa Đô suất quân mượn đường Đại Việt tiến công Chiêm Thành, song TháiTrần thượngThánh hoàngTông, Trần ThánhNhân Tông phản kháng nên hai bên [[Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2|bùng phát chiến tranh]]. Quân Nguyên xâm nhập Đại Việt với quy mô lớn, đánh chiếm lĩnhđược quốckinh đô của[[Thăng Đại ViệtLong]]. Tuy nhiên, Trầnhai Thánhvua TôngTrầncác tướng tôn thất tài ba như [[Trần Quang Khải]], [[Trần Hưng Đạo]] suất lĩnh quân TrầnViệt tích cực kháng cự, lại thêm quân Nguyên mắc phải ôn dịch. Cuối cùng, quân Nguyên triệt thoái vào năm 1285, trên đường bị quân TrầnViệt tập kích, tổn thất quá bán. Năm 1288, triều đình Nguyên lại [[Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 3|tiến hành nam chinh]] song vẫn thất bại, sau đó Trần Nhân Tông thỉnh hòa. Cuộc chiến tranh kéo dài này đến thời Nguyên Thành Tông mới ngưng, An Nam và Chiêm Thành về sau duy trì triều cống triều đình Nguyên. Đương thời, có nhiều quốc đảo tại Đông Nam Á triều cống cho triều đình Nguyên, hữu danh có Mã Lan Đan (nay là Malacca), Tô Mộc Đô Lạp (nay là Sumatra). Năm 1292, Nguyên Thế Tổ mệnh Diệc Hắc Mê Thất, Sử Bật và Cao Hưng đem thủy quân Phúc Kiến nam chinh Vương quốc [[Majapahit]] trên đảo [[Java]], đồng thời làm khuất phục nước lân cận của Majapahit là Cát Lang, song trúng kế bị đột kích, chiến bại trở về, song sau đó Majapahit vẫn phái sứ giả đến triều cống<ref name="中國通史宋遼金元史第五章"/>. Ngoài ra, Nguyên Thế Tổ còn phái sứ giả chiêu hàng Lưu Cầu Quốc (nay là Đài Loan hoặc [[quần đảo Nansei|Ryukyu]]), song sứ giả chỉ đến [[Bành Hồ]] rồi về<ref name="元朝疆域"/>.
 
== Nhân khẩu ==