Khác biệt giữa các bản “Quân phục Quân đội nhân dân Việt Nam”

Bắt đầu có trang phục, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu của Lục quân, Hải quân, Không quân.
 
Lục quân: Trang phục như kiểu cũ (năm 1954). Quân hiệu hình tròn, đường kính 3,3 cm, nền đỏ, ở giữa là ngôi sao vàng nổi, có nhiều tia tỏa ra. Ởphía dưới hình nửa bánh xe, vòng hai bên là haihình bông lúa ôm vòng lên, tượng trưng cho công nông. Đeo ở trước mũ.
 
Không quân: Áo blu-dông, hai túi ngực có nắp, quần Âu, đi bốt cao (hoặc giày da đen), đội mũ bay. Quân hiệu, nền xanh da trời, ngôi sao vàng nổi ở giữa hình hai cánh chim bạc, phía dưới có hình nửa bánh xe, vòng hai bên là hình bông lúa.
 
Hải quân: Áo sơ mi trắng, vải dày, cổ chui, cổ áo liền yếm. Ngoài ra còn có một yếm trắng đệm trong cổ áo phía trước với năm đường kẻ màu tím than, tượng trưng cho sóng nước. Quần Âu màu tím than. Mũ vải trắng có vành da ghi chữ Quân đội nhân dân Việt Nam, và hai dải vải màu xanh buông về phía sau. Quân hiệu, nền màu tím than, giữa là hình ngôi sao vàng nổi đè lên hình mỏ neo màu đỏ, phía dưới có hình nửa bánh xe, vòng hai bên là hình bông lúa.
 
Cấp hiệu của các quân chủng đều nền màu vàng, viền chung quanh theo màu nền của từng loại quân hiệu. Cấp hiệu đeo ở cầu vai. Phù hiệu, nền theo màu của từng quân chủng, có các hình tượng trưng theo từng loại binh chủng. Phù hiệu đeo ở ve áo. Hình ảnh anh bộ đội thời kỳ kháng chiến chống Pháp được tô đậm nét cùng với tấm áo chấn thủ điển hình thì chiếc mũ tai bèo thời gian chống Mỹ cứu nước ở miền Nam lại là tượng trưng cho chiến sĩ Giải phóng quân kiên cường dũng cảm. Chiến sĩ Giải phóng quân mặc áo sơ mi, quần Âu vải xanh lá cây. Đi giày vải. Đặc biệt là đội mũ tai bèo. Mũ tai bèo là một loại mũ vải màu xanh lá cây, vành mũ tròn và mềm trông giống như một cánh bèo. Chiến sĩ Giải phóng quân còn thường khoác một mảnh dù hoa để ngụy trang. Quân hiệu: nền nửa trên đỏ, nửa dưới màu xanh da trời, giữa là ngôi sao vàng nổi (tượng trưng cho lá cờ giải phóng miền Nam).