Khác biệt giữa các bản “Trường phái trừu tượng”

clean up
n (replaced: ( → (, . → . (2), , → , (3), Quốc Xã → Quốc xã (5), MoscowMoskva, (in French) → (bằng tiếng Pháp), tháng 10, 20 → tháng 10 năm 20, tháng 9, 20 → tháng 9 năm 20, thán using AWB)
(clean up)
Phần lớn mỹ thuật của các nền văn hoá trước đây - những ký hiệu và điểm nhấn trên đồ gốm, đồ dệt, và các bức tranh khắc trên vách đá - sử dụng các hình đơn giản, kỷ hà và tuyến tính, thường có mục đích biểu tượng hay trang trí<ref>György Kepes, ''Dấu hiệu, Hình ảnh và Biểu tượng'', Studio Vista, London, 1966</ref>.Mỹ thuật trừu tượng có thể truyền đạt mức độ giống như vậy qua ngôn ngữ thị giác.<ref>Derek Hyatt,"Gặp gỡ người Moor", ''Các họa sĩ hiện đại'', thu năm 1995</ref> Người ta có thể thưởng thức vẻ đẹp của bức thư pháp của Trung Quốc hoặc thư pháp Hồi giáo mà không thể hay không cần đọc nó.<ref>Simon Leys, 2013. [https://books.google.com/books?id=lrfqs5-beRAC&pg=PA304&lpg=PA304&dq= ''Sảnh vô dụng: Các bài tiểu luận sưu tầm'']. New York: New York Review Books. tr. 304. <nowiki>ISBN 9781590176207</nowiki>.</ref>
[[Tập tin:Yujian ink Mercadodemontaña.jpg|nhỏ|286x286px|''Sơn thị loan tình đồ'' (Chợ trên núi lúc sương tan), Vũ Kiên, Trung Quốc]]
Trong mỹ thuật Trung Quốc, tranh trừu tượng có thể được truy nguồn từ nhà thơ [[Nhà Đường|Đường]] [[Vương Mặc]] (王 墨), người được cho là đã phát minh ra một phong cách vẽ tranh bằng cách vẩy mực <ref>Lippit, Y. (2012). "Về truyền pháp và phong tục trong tranh sơn dầu của Nhật Bản: Phong cảnh phun nước của Sesshū năm 1495". ''The Art Bulletin'', 94(1), tr. 56.</ref>. Dù không còn bức tranh nào của ông sót lại, phong cách này lại được thấy rõ ràng trong một số bức tranh [[Nhà Tống|triều Tống]]. Các hoạhọa sĩ Phật giáo nhánh Thiền, [[Lương Khải]] (梁楷), (1140-1210) đã áp dụng phong cách vẽ này trong bức tranh "Bát mặc tiên nhân", tranh đã mô tả chính xác sự hy sinh để loại bỏ [[lý tính]] trong [[cái trí]] của người [[giác ngộ]]. Một họa sĩ cuối đời Tống tên là [[Vũ Kiên]], thông thạo giáo lý [[Thiên Thai tông|Phật giáo Thiên Thai]], đã tạo ra một loạt tranh các cảnh bằng các nét mực đầy chấm phá, phong cách này đã thu hút rất nhiều họa sĩ [[Thiền đạo|Thiền]] người Nhật. Những bức tranh của ông thường tả những ngọn núi phủ sương mù dày đặc, trong đó các hình dạng của các vật thì khó nhìn thấy và cực kỳ giản lược. Kiểu tranh này được tiếp tục bởi [[Sesshu Toyo]] trong những năm sau đó.
[[Tập tin:Enso.jpg|nhỏ|226x226px|''Viên tương'' (2000) bởi [[Kanjuro Shibata XX]]]]
Một ví dụ khác của sự trừu tượng trong bức tranh Trung Quốc được nhìn thấy trong bức [[c:File:Zhu_Derun_-_Primordial_Chaos_(painting_only).jpeg|'Hỗn luân đồ]]" của [[Châu Đức Nhuần]]. Bên trái của bức tranh này là một cây thông trên đất đá, các nhánh của nó cuộn bởi những nhành nho, chuyển động hỗn loạn về phía bên kia của bức tranh. Bên phải lại là một vòng tròn hoàn hảo (có thể vòng tròn đã được vẽ bằng [[com-pa]] <ref>Watt, J. C. (2010). ''Thế giới của Hốt Tất Liệt: Nghệ thuật Trung Quốc trong triều đại nhà Nguyên''. Metropolitan Museum of Art, tr. 224</ref>) lơ lửng trong khoảng không. Bức tranh là một sự phản ánh của siêu hình học [[Đạo giáo]], trong đó sự hỗn loạn và thực tế là những trạng thái bổ khuyết của một chu trình tự nhiên bình thường. Dưới thời [[Gia tộc Tokugawa|Tokugawa]], một số thợ sơn Thiền đạo đã tạo ra Enso [[Viên tương|''(Viên tương)'']], một vòng tròn tượng trưng cho sự [[giác ngộ]] tuyệt đối. [[Enso]] thường được thực hiện trong một cú đánh bút tự nhiên, nó trở thành dạng thức của thẩm mỹ tối giản, dẫn dắt một phần quan trọng trong các bức tranh [[thiền]].
{{main article|Lập thể|Trường phái Dã thú||}}
 
Trường phái [[Hậu ấn tượng|Hậu Ấn tượng]] với các họa sĩ như [[Paul Gauguin]], [[Georges Seurat]], [[Vincent van Gogh]] và [[Paul Cézanne]] đã có một tác động rất lớn đối với mỹ thuật thế kỷ 20 và dẫn tới sự ra đời của trường phái trừu tượng của thế kỷ 20. Các tác phẩm để lại của các hoạhọa sĩ như [[Vincent van Gogh|Van Gogh]], [[Paul Cézanne|Cézanne]], [[Paul Gauguin|Gauguin]], và [[Georges Seurat|Seurat]] là tối quan trọng cho sự phát triển của mỹ thuật hiện đại. Vào đầu thế kỷ 20, [[Henri Matisse]] và một số nghệ sĩ trẻ [[tiền-Lập thể]] khác có thể kể đến như [[Georges Braque]], [[André Derain]], [[Raoul Dufy]] và [[Maurice de Vlaminck]] đã cách mạng giới nghệ thuật ở Paris với các bức vẽ "hoang dã", đa màu sắc, hàm xúc mà các nhà phê bình gọi là [[Trường phái dã thú|trường phái Dã thú]]. Với các màu sắc mạnh mẽ, những nét vẽ tự do và giàu tính tưởng tượng, [[Henri Matisse]] đã tiến rất gần với sự trừu tượng thuần túy qua các bức tranh ''Cửa sổ Pháp tại Collioure'' (1914), ''Góc nhìn từ Nhà thờ Đức bà'' (1914) và ''Bức rèm Vàng'' năm 1915. Ngôn ngữ ''thô'' của màu sắc như được phát triển bởi trường phải dã thú cũng trực tiếp ảnh hưởng một người tiên phong khác của trường phái trừu tượng, [[Wassily Kandinsky]] (xem tranh).
[[Tập tin:'Windows Open Simultaneously (First Part, Third Motif)' by Robert Delaunay.JPG|nhỏ|''Cửa số mở đồng loạt'', (phần đầu, motif thứ 3), vẽ bởi Robert Delaunay, sơn dầu trên voan. |278x278px]]
[[Tập tin:1913 Popova Das Modell anagoria.JPG|trái|nhỏ|[[Lyubov Popova]], ''Người mẫu'', 1913. Một bức tranh theo [[Trường phái lập thể|trường phái Lập thể]] |307x307px]]