Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Chu Quý phi (Minh Anh Tông)”

n
stub sorting, replaced: nhà Minh → Nhà Minh (5) using AWB
n (→‎top: clean up using AWB)
n (stub sorting, replaced: nhà Minh → Nhà Minh (5) using AWB)
| tên gốc = 孝肅皇太后
|hình=孝肃皇后.jpg
|chức vị 1=[[Hoàng thái hậu]] [[nhàNhà Minh|Đại Minh]]
|tại vị 1= [[1464]] - [[1487]]
|tiền nhiệm 1 = <font color = "grey">[[Hiếu Trang Duệ hoàng hậu|Từ Ý Thái hậu]]</font>
|kế nhiệm 1 = [[Hiếu Trinh Thuần hoàng hậu|Từ Khánh Thái hậu]]
|chức vị 2=[[Thái hoàng thái hậu]] [[nhàNhà Minh|Đại Minh]]
|tại vị 2= [[1487]] - [[1504]]
|tiền nhiệm 2 = <font color = "grey">[[Thành Hiếu Chiêu hoàng hậu|Thành Hiếu Thái hoàng thái hậu]]</font>
 
== Tiểu sử ==
Hiếu Túc hoàng thái hậu mang [[họ Chu]] (周氏), sinh ngày [[14 tháng 10]] (âm lịch) năm Tuyên Đức thứ 5, xuất thân từ [[Xương Bình]]. Bà là con gái Cẩm y vệ tặng Ninh quốc công [[Chu Năng]] (周能), có em trai là Khánh Vân hầu [[Chu Thọ]] (周寿), Trường Ninh bá [[Chu Úc]] (周彧). Bấy giờ bà xuất thân hàn vi, vào cung làm [[cung nữ]], do có dung mạo xinh đẹp mà bà được Anh Tông sủng hạnh.
 
Năm Chính Thống thứ 11 ([[1446]]), bà sinh hạ [[Trọng Khánh công chúa]] (重慶公主), và đến năm thứ 12 ([[1447]]) thì sinh ra Hoàng trưởng tử [[Minh Hiến Tông|Chu Kiến Thâm]], là con trai trưởng của Anh Tông. Không lâu sau khi sinh, Chu Kiếm Thâm trở thành [[Hoàng thái tử]].
 
== Thái hoàng triều Minh ==
Năm Thiên Thuận thứ 8 ([[1464]]), Minh Anh Tông băng hà, Thái tử Chu Kiến Thâm kế vị, tức [[Minh Hiến Tông]].
 
Hoàng đế tôn Tiền hoàng hậu và Chu Quý phi làm [[Hoàng thái hậu]]. Bấy giờ xảy ra tranh cãi, một số cận thần hoạn quan khuyên Hiến Tông chỉ độc tôn Chu Quý phi làm Hoàng thái hậu; nhưng các Đại học sĩ [[Lý Hiền]] (李贤), [[Bành Lực]] (彭时) phản đối, vì Tiền hoàng hậu là Hoàng hậu đích mẫu, không thể chỉ tôn Chu Quý phi một mình, nên kiến nghị cùng tôn ''"Lưỡng cung Thái hậu"''. Để tỏ rõ đích thứ khác biệt, triều thần dâng tôn hiệu cho Tiền Thái hậu là '''Từ Ý Hoàng thái hậu''', còn Chu Thái hậu không có tôn hiệu. Tuy vậy, Hiến Tông cực kì hiếu thuận mẹ đẻ, còn đối Tiền Thái hậu chỉ trên có lệ. Theo sử ghi lại, cứ hằng ngày đến thỉnh an, không việc gì mà Thái hậu yêu sách mà Hiến Tông dám không từ.
Năm Hoằng Trị thứ 17 ([[1504]]), vào ngày [[1 tháng 3]] (âm lịch), Chu Thái hoàng thái hậu qua đời.
 
Bấy giờ bà là thân phận phi tần, dù sinh ra Hoàng đế nhưng thụy hiệu của bà cũng không có đế thụy '''Duệ''' (睿) của chồng, không như chánh thất [[Hiếu Trang Duệ hoàng hậu]] Tiền thị. Ban đầu, [[Minh Hiếu Tông]] không theo quy chế, sau do các [[Đại học sĩ]] tấu nghị bà bỏ chữ ''"Duệ"'' đi, như vậy [[thụy hiệu]] của bà viết đầy đủ là '''Hiếu Túc Trinh Thuận Khang Ý Quang Liệt Phụ Thiên Thừa Thánh Thái hoàng thái hậu''' (孝肅貞順康懿光烈輔天承聖太皇太后).
 
Tuy được hợp táng ở [[Dụ Lăng]], nhưng bà không được phối thờ ở [[Thái miếu]] mà ở một điện riêng biệt ở [[Phụng Tiên điện]], để phân biệt ngôi thứ vậy, từ đó triều Minh theo lệ này, các Hoàng hậu vốn không phải đích thì thờ ở đấy.