Khác biệt giữa các bản “Tiến sĩ”

(→‎Việt Nam: Unicodifying)
(→‎Việt Nam: clean up)
Trong giai đoạn [[phong kiến]], tại các cuộc thi [[Nho giáo|Nho học]] của Việt Nam, học vị tiến sĩ được trao cho những người đỗ tất cả ba kỳ thi: [[thi Hương]], [[thi Hội]] và [[thi Đình]], được ghi danh trong khoa bảng (trừ thời [[nhà Nguyễn]], có thêm học vị [[Phó bảng]] không phải là tiến sĩ, nhưng cũng được chấm đỗ ba kỳ thi trên). Thời [[nhà Trần]] những người đỗ tiến sĩ được gọi là [[Thái học sinh]].
 
Thời [[Nhà Lê sơ|Hậu Lê]], [[nhà Mạc]] và [[nhà Nguyễn]], tiến sĩ được dùng để phong cho những người thi đậu trong các kỳ [[thi Đình]] và [[thi Hội]] tùy theo từng thời. Danh sách các tiến sĩ thời hậu Lê và Mạc được khắc trên các [[bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long]]. Vào thời nhà Nguyễn, kinh đô được chuyển vào [[Cố đô Huế|Phú Xuân]] - [[Huế]], Văn Miếu Thăng Long không còn là văn miếu quốc gia nữa nên các bia tiến sĩ không còn được dựng tại đây. Nhà Nguyễn bắt đầu cho dựng bia tiến sĩ tại [[Văn miếu Huế|Văn Miếu Huế]] từ khoa thi năm 1822. Tổng số các tiến sĩ, [[phó bảng]] và tương đương (trúng tuyển thi Hội) kể từ khoa thi đầu tiên 1075 đến khoa thi cuối cùng 1919 là 2.848 người.<ref>{{chúChú thích web | url=http://webdayhoc.net/index.php?option=com_content&view=article&id=15:giao-dc-vit-nam-trong-thi-phong-kin&catid=9:giao-dc-vit-nam&Itemid=22 |titletiêu đề=Giáo dục Việt Nam trong thời phong kiến |datengày tháng=17/3/2010}}</ref>
 
Bắt đầu từ thế kỷ 20, học vị Tiến sĩ của Việt Nam bắt đầu áp dụng chính thức theo hệ thống giáo dục hiện đại của châu Âu. Thời Pháp thuộc, mặc dù nền giáo dục bị giới hạn nhiều bởi tình trạng thuộc địa, lịch sử vẫn ghi nhận một số người bản xứ lấy được học vị Tiến sĩ như [[Phan Văn Trường]], Tiến sĩ Luật đầu tiên của Việt Nam...