Khác biệt giữa bản sửa đổi của “Trương Quốc Vinh”

Nội dung được xóa Nội dung được thêm vào
Không có tóm lược sửa đổi
Dòng 37:
}}
{{Chinese||t= 張國榮| s= 张国荣| p= Zhāng Guóróng| j= Zoeng1 Gwok3wing4}}
'''Trương Quốc Vinh''' ([[phồn thể]]: 張國榮; [[giản thể]]: 张国荣; [[12 tháng 9]] năm [[1956]] - [[1 tháng 4]] năm [[2003]]), còn được biết đến với cái tên quốc tế '''Leslie Cheung''', là nam [[diễn viên]], [[ca sĩ]], [[nhạc sĩ]] nổi tiếng của [[Hồng Kông]]. Không chỉ sở hữu một sự nghiệp âm nhạc và điện ảnh thành công rực rỡ, Trương Quốc Vinh còn được biết đến như một trong những ngôi sao được yêu thích và có ảnh hưởng nhất tại châu Á, được xem như ''"Người đi tiên phong của làng nhạc [[Cantopop]]"''<ref>[http://www.popmatters.com/film/features/030508-cheung.shtml Stephen Kelly, ''"WHY DOES IT HAVE TO BE LIKE THIS?" Leslie Cheung, 1956-2003''], 8 tháng 5 năm 2003</ref><ref name="Leslie Cheung - Lagrer Than Life">[http://www.hkvpradio.com/artists/lesliecheung Leslie Cheung - Lagrer Than Life]</ref>.
 
Năm [[2003]], anh [[nhảy lầu]] [[tự sát]] tại [[khách sạn]] 24 tầng [[Mandarin Oriental]] ở HongKong, khi tuổi đời chỉ mới 46 tuổi. Người ta thấy một bức thư tuyệt mệnh của anh gửi lại, trong đó cho thấy rằng anh đã bị những áp lực tâm lý trong một thời gian dài dẫn đến tự sát. Với một sự nghiệp đang phát triển vượt trội, tin tức về cái chết của anh nhanh chóng làm chấn động đông đảo người hâm mộ trên toàn thế giới.
 
Năm [[2005]], anh được khán giả Hồng Kông bình chọn là ''Diễn viên được yêu thích nhất trong 100 năm lịch sử điện ảnh Trung Quốc''<ref>{{chú thích web | url = http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-05/27/content_446339.htm | tiêu đề = 'Farewell My Concubine' most appreciated in HK | author = | ngày = | ngày truy cập = 10 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref>. Năm [[2010]], Trương Quốc Vinh là ngôi sao châu Á duy nhất có mặt trong top 5 ''"Global Music Icon"'' do [[CNN]] tổ chức bình chọn, anh đứng ở vị trí thứ ba, sau [[Michael Jackson]] và [[The Beatles]]<ref>{{chú thích web | url = http://edition.cnn.com/2010/SHOWBIZ/Music/08/24/music.icon.gallery/index.html#fbid=se721qUXK4Z&wom=false | tiêu đề = Michael Jackson: Your number one music icon | author = | ngày = | ngày truy cập = 10 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref>.
 
==Tiểu sử==
Trương Quốc Vinh sinh ngày [[12 tháng 9]] năm [[1956]] tại [[Bán đảo Cửu Long|Cửu Long, Hồng Kông]] với tên khai sinh là Trương Phát Tông (''張發宗''), sau được cha mẹ đổi lại thành Trương Quốc Vinh. Trương Quốc Vinh là con út trong một gia đình trung lưu có mười người con, cha anh là một thợ may nổi tiếng, đã từng may trang phục cho nhiều ngôi sao điện ảnh Mỹ nổi tiếng như đạo diễn [[Alfred Hitchcock]], các tài tử [[William Holden]] và [[Cary Grant]]. Cha mẹ Trương Quốc Vinh ly dị khi anh còn khá nhỏ. Năm 13 tuổi, anh được gửi đi học ở [[Anh]], tại Eccles Hall School, và phải đối mặt với nạn [[phân biệt chủng tộc]] tại đây. Anh từng làm phục vụ cho một nhà hàng của những người đồng hương, và đi hát vào mỗi cuối tuần. Đây là thời gian anh chọn tên tiếng Anh cho mình, Leslie. Theo Trương Quốc Vinh, anh chọn cái tên này vì: ''"Tôi rất thích bộ phim ''[[Cuốn theo chiều gió (phim)|Cuốn theo chiều gió]]'', cũng như diễn viên [[Leslie Howard]]. Cái tên đó phù hợp với cả hai giới, nó phi giới tính, nên tôi thích nó."''<ref name="ReferenceA">''Time Asia - Phỏng vấn với Richard Corliss''</ref>
 
Trong một số cuộc phỏng vấn, Trương Quốc Vinh đã từng nói về thời thơ ấu không hạnh phúc của mình: ''"Tôi không có một thời thơ ấu tươi đẹp. Tranh chấp, cãi vã, và không được sống chung nhà; người chăm lo cho tôi là bà tôi." "Khi còn nhỏ, điều tôi làm tôi nghĩ đến nhiều nhất là bố mẹ không ở nhà với mình. Với một đứa trẻ, chẳng bao giờ nó có thể hiểu được tại sao bố mẹ mình lại luôn đi vắng. Đôi khi tôi không chịu nổi điều ấy."''<ref name="ReferenceA"/>
Dòng 54:
 
=== Khởi nghiệp ===
Năm [[1977]], Trương Quốc Vinh tham gia và giành giải nhì tại [[Cuộc thi Âm nhạc châu Á]], tổ chức bởi Rediffusion Television Co. (RTV). Anh ký hợp đồng với RTV (hãng truyền hình sau này được đổi thành [[Asia Television Company]] - ATV) và bắt đầu bước vào làng giải trí Hồng Kông. Ngoài ra, Trương Quốc Vinh còn ký một hợp đồng âm nhạc với [[Polydor Records]], phát hành 2 album ''Day Dreaming'' ([[1977]]) và ''Lover's Arrow'' ([[1979]]).
 
Những ngày đầu sự nghiệp của Trương Quốc Vinh hoàn toàn không thuận lợi. Anh từng có lần bị đuổi khỏi sân khấu, hai album đầu của anh cũng không được công chúng hoan nghênh. Kết thúc hợp đồng của mình, Trương Quốc Vinh rời khỏi Polydor Records. Bộ phim đầu tiên Trương Quốc Vinh tham gia, ''The Erotic Dream of the Red Chamber'' (''紅樓春上春'', [[1978]]) là một phim khá "lộ liễu", để lại một điểm xấu trong sự nghiệp của anh. Về sau Trương Quốc Vinh phát biểu, anh không biết đến tính "nhạy cảm" của bộ phim khi ký kết hợp đồng<ref>Leslie Cheung, "Leslie Cheung Autobiography", Commercial Radio Hong Kong, 1985</ref>.
 
Trong thập niên 1970, 1980, Trương Quốc Vinh tham gia trong một số bộ phim truyền hình như ''The Young Concubine'' (''我家的女人''), ''Agency 24'' (''甜甜廿四味''), ''Pairing'' (''對對糊'') và ''The Spirit Of The Sword'' (''浣花洗劍錄''). Những bộ phim này giúp anh trở thành một gương mặt quen thuộc của màn ảnh nhỏ tại Đông Nam Á.
 
=== Vươn lên đỉnh cao ===
Năm [[1982]], Trương Quốc Vinh gia nhập [[Capital Artists]] khi kết thúc hợp đồng với RTV. Đây là lúc [[Trần Thục Phân]] - người vẫn theo Trương Quốc Vinh đến tận sau này - bắt đầu làm quản lý cho anh. Tại Capital Artists, Trương Quốc Vinh cũng gặp được [[Mai Diễm Phương]] - một thần tượng khác của Cantopop, và bắt đầu tình bạn thân thiết lâu năm của họ.
 
Năm [[1983]], ''The Wind Blows On'' (''風繼續吹'') trở thành bài hit đầu tiên của Trương Quốc Vinh. Và năm 1984, ''Monica'' lọt vào danh sách ''Top 10 bài hát được yêu thích nhất''. Ca khúc sôi động này cũng giành được giải ''Top 10 ca khúc vàng tiếng Hoa'' của RTHK. ''Monica'' trở thành đại diện cho một thể loại nhạc mới của Hồng Kông vào giữa thập niên 1980. Người nghe từ đây bắt đầu mong mỏi Cantopop có thêm nhiều bài hát sôi động và mạnh mẽ, mang âm hướng nhạc dance như vậy. Những bài hát khác lọt vào ''Top 10 ca khúc vàng'' của Trương Quốc Vinh còn có ''Wild Wind'' (''不羈的風'', album ''For Your Love Only'', [[1985]]); ''Who Can Be With Me'' (''有誰共鳴'', album ''Leslie Cheung: Allure Me'', [[1986]]) và ''Mode of Those Years'' (當年情, ca khúc chủ đề cho bộ phim [[Anh hùng bản sắc (phim 1986)|Anh hùng bản sắc]], album ''Leslie Cheung: Allure Me'', [[1986]]). Ngoài ra, ''Who Can Be With Me'' còn giành được giải ''Bài hát vàng của năm'' (1986).
 
So với lĩnh vực âm nhạc, sự nghiệp điện ảnh của Trương Quốc Vinh khởi sắc có phần muộn màng hơn. Trong ''Encore'' ([[1980]]) và ''[[Thất nghiệp sinh]]'' (''On Trial'', [[1981]]), Trương Quốc Vinh đảm nhận hai vai phụ. Tuy nhiên, tài năng diễn xuất của anh lại nhanh chóng được công nhận với Đề cử Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất tại [[Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông]] (''HKFA'') cho vai diễn trong ''Thất nghiệp sinh''. Sau đề cử này, Trương Quốc Vinh được mời vào vai nam chính trong ''Teenage Dreamers'' (1982), và kể từ đó, hầu như anh luôn đảm nhận vai chính trong những phim mình tham gia. Trong những năm 1980 đến 1986, hầu hết những bộ phim của Trương Quốc Vinh đều là phim dành cho giới trẻ. Trong số này, ''[[Liệt hỏa thanh xuân]]'' (''No Mad'', [[1982]]) được các nhà phê bình và giới truyền thông Hồng Kông nhận định như "Một làn sóng mới" của điện ảnh. Vai Louis trong ''Liệt hỏa thanh xuân'' cũng đem lại cho Trương Quốc Vinh một đề cử giải Nam diễn viên xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông. Sau này, Trương Quốc Vinh phát biểu rằng, ''Liệt hỏa thanh xuân'' chính là phim điện ảnh "thật sự" đầu tiên của mình. Trong thời gian này, Trương Quốc Vinh còn tham gia vào một số phim truyền hình của [[Television Broadcasts]] (TVB), như ''Once UponNồng anbổn Ordinaryđa Girltình'' (''儂本多情'') và ''The Fallen Family'' (''武林世家'').
 
===Vinh quang và Giã biệt===
Năm [[1986]], Trương Quốc Vinh gia nhập [[Cinepoly Records Hong Kong]] và cho phát hành album ''Summer Romance'' vào năm [[1987]]. Album này đã giành được danh hiệu CD bán chạy nhất trong năm và Album bán chạy nhất trong năm. Thành công của ''Summer Romance'' càng đưa sự nghiệp âm nhạc của Trương Quốc Vinh lên đỉnh cao và giúp anh trở thành một trong hai thần tượng của làng Cantopop lúc bấy giờ cùng [[Đàm Vịnh Lân]]. Năm [[1988]], ''Im lặng là vàng'' (沉默是金) ra đời, đây là một trong những bài hát nổi tiếng nhất của Trương Quốc Vinh. ''Hot Summer'' (1988), ''Virgin Snow'' (1988), ''Leslie '89'' (''SideMặt facebên'', IFPI - Album Bán chạy nhất trong năm, [[1989]]), ''Final Encounter'' (1989), và ''Salute'' ([[1990]]) là những album nổi tiếng khác mà Trương Quốc Vinh cộng tác với Cinepoly Records. ''Salute'' là album đầu tiên được làm với mục đích phi lợi nhuận bởi một ngôi sao lớn của làng nhạc Hồng Kông. Trong album này, Trương Quốc Vinh chỉ hát lại những bài hát của các ca sĩ khác. Với anh, ''Salute'' chính là cách bày tỏ lòng ngưỡng mộ của mình đối với âm nhạc. Toàn bộ số tiền thu được từ album này, Trương Quốc Vinh đã ủng hộ cho Học viện đào tạo Nghệ thuật biểu diễn Hồng Kông - sau này trở thành Quỹ học bổng Tưởng nhớ Trương Quốc Vinh khi anh mất<ref>[http://www.hkapa.edu/asp/general/general_friends_sponsors.asp Leslie Cheung Memorial Scholarship]</ref>.
 
Cùng với sự nổi tiếng của Trương Quốc Vinh và Đàm Vịnh Lân, fan của cả hai ca sĩ này cũng quay sang "đối địch" lẫn nhau, sự tranh chấp "vị thế" của các fan ra sức ép nặng nề cho cả Trương Quốc Vinh và Đàm Vịnh Lân. Năm 1988, Đàm Vịnh Lân công khai rút khỏi toàn bộ các giải thưởng của làng nhạc pop. Và năm 1989, Trương Quốc Vinh tuyên bố ý định giã từ sự nghiệp âm nhạc của mình. Anh trở thành ca sĩ đầu tiên có một sêri Nhạc hội từ giã sự nghiệp tại Đại hí viện Hồng Kông, với tổng cộng 33 đêm diễn (Trương Quốc Vinh lúc này vừa được 33 tuổi). Năm 1990, Trương Quốc Vinh rời khỏi Hồng Kông trong lúc sự nghiệp đang ở đỉnh cao và nhập cảnh British Columbia - Canada. Năm [[1992]], Trương Quốc Vinh trở thành công dân Canada nhưng sau đó không lâu, anh lại rời Canada để quay về Hồng Kông.
 
Trong những 1986 đến 1989, Trương Quốc Vinh tham gia một số phim được xem như kinh điển của điện ảnh Hồng Kông<ref>[http://en.wikipedia.org/wiki/Hong_Kong_Film_Awards The Best 100 Chinese Motion Pictures]</ref>. ''[[Anh hùng bản sắc]]'' (1986, đạo diễn [[Ngô Vũ Sâm]]) với sự tham gia của [[Châu Nhuận Phát|ChuChâu Nhuận Phát]], Trương Quốc Vinh, [[Địch Long]] đã trở thành bộ phim tiên phong cho thể loại "tam kiệt" của Hồng Kông trong thập niên 1980. Trong phim này, anh vào vai Tống Tử Kiệt, một cảnh sát trẻ ngay thẳng và đầy ý chí, ôm trong mình tình cảm cũng như sự oán giận với người anh trai - người mà cậu ta cho rằng đã gây ra cái chết cho cha họ. Vai diễn này giúp Trương Quốc Vinh được công chúng nhìn nhận như một diễn viên chuyên nghiệp.
 
Năm 1987, ngoài ''[[Anh hùng bản sắc II]]'', Trương Quốc Vinh tham gia ''[[Yên chi khâu]]'' (đạo diễn [[QuangQuan Cẩm Bằng|Quan Cẩm Bằng]]) với Mai Diễm Phương, ''[[Thiến nữ u hồn]]'' (đạo diễn [[Trình Tiểu Đông]]) với [[Vương Tổ Hiền]]. Hai vai diễn cảnh sát viên Tống Tử Kiệt và chàng công tử si tình Trần Chấn Bang đem về cho anh hai Đề cử nam diễn viên xuất sắc nhất của Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông và [[Liên hoan phim Kim Mã]]. Thành công của ''Anh hùng bản sắc'' và ''Thiến nữ u hồn'' còn giúp Trương Quốc Vinh được khán giả [[Nhật Bản]] và [[Hàn Quốc]] yêu mến nhiệt liệt, cũng như khởi đầu cho sự nổi tiếng của anh tại hai đất nước này. Cho đến nay, chưa có nam nghệ sĩ Hồng Kông hay Trung Quốc nào có thể đạt được ảnh hưởng tại Nhật Bản và Hàn Quốc như Trương Quốc Vinh. Nếu tính theo số lượng, người hâm mộ của anh tại Nhật Bản còn nhiều hơn ở Hồng Kông. Anh cũng là người mở đường cho âm nhạc Trung Hoa tiến vào thị trường Hàn Quốc, album đầu tiên phát hành tại Hàn Quốc của anh bán được 300.000 bản, trong khi các album của [[Thiên vương|Tứ đại thiên vương]] sau đó cũng chỉ bán được 90.000 bản. Sự nổi tiếng của Trương Quốc Vinh ở thị trường Hàn Quốc là vô cùng mạnh mẽ. Những ngôi sao Hàn Quốc ngày nay rất nhiều người chịu ảnh hưởng từ Trương Quốc Vinh.
 
===Đỉnh cao điện ảnh===
Từ giữa thập niên 1980 đến giữa thập niên 1990 là thời kì vàng son của điện ảnh Hồng Kông, đồng thời cũng là giai đoạn Trương Quốc Vinh đạt đến đỉnh cao sự nghiệp trong lĩnh vực điện ảnh.
 
<nowiki> </nowiki>Năm [[1991]], bộ phim nghệ thuật kinh điển của Hồng Kông ''[[A Phi chính truyện]]'' của đạo diễn [[Vương Gia Vệ]] ra đời và thành công rực rỡ, vai Yuddy trong bộ phim này đã mang đến cho Trương Quốc Vinh giải Nam diễn viên xuất sắc nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông 1991. Mặc dù đã từng phát biểu là rất "khó chịu" với cách làm việc của đạo diễn Vương Gia Vệ (Vương Gia Vệ làm phim thường không có kịch bản, ông hay bắt đầu mọi thứ bằng một ý tưởng, mời diễn viên, rồi vừa quay vừa nghĩ kịch bản, điều này có thể làm hao tổn rất nhiều thời gian và công sức của diễn viên, nhất là trong môi trường làm việc đầy rẫy khó khăn như ''Xuân quang xạ tiết''), nhưng khán giả màn ảnh rộng đều công nhận đạo diễn này có thể đem đến cho điện ảnh một "Best of Leslie", điều này có thể chứng minh qua những bộ phim khác mà Trương Quốc Vinh hợp tác với Vương Gia Vệ.
 
''[[Đông Tà Tây Độc]]'' ([[1994]]) là một bộ phim võ hiệp nhưng lại chú trọng khai thác tình cảm và mối quan hệ giữa các nhân vật với nhau, vai kiếm khách kiêm sát thủ [[Âu Dương Phong]] trong bộ phim này đã đem về cho Trương Quốc Vinh giải Nam diễn viên xuất sắc nhất tại Hong Kong Film Critics Society Awards. ''[[Xuân quang xạ tiết]]'' ([[1997]]) với diễn xuất xuất sắc của Trương Quốc Vinh (vai Hà Bảo Vinh) và [[Lương Triều Vĩ]] (vai Lê Diệu Huy) vẫn luôn là bộ phim gây xúc động cho khán giả trong rất nhiều năm.
 
Nhưng bộ phim được nhớ đến nhiều nhất của Trương Quốc Vinh lại là sự hợp tác giữa anh và đạo diễn [[Trần Khải Ca]] ''[[Bá Vương biệt cơ|Bá vương biệt cơ]]'' ([[1993]]). ''Bá vương biệt cơ'' là bộ phim mà Trần Khải Ca tâm đắc nhất, việc tuyển chọn diễn viên cũng là một vấn đề khó khăn. Và lần đầu tiên, một diễn viên Hồng Kông được mời vào một phim của Trung Quốc đại lục. Trương Quốc Vinh đã đến [[Bắc Kinh]] nửa năm để học [[kinh kịch]] và tham gia bộ phim này. ''Bá vương biệt cơ'' đạt giải Cành cọ vàng tại [[Liên hoan phim Cannes]] và dành hai đề cử Phim nước ngoài hay nhất, Quay phim xuất sắc nhất tại [[giải Oscar]]. Trình Điệp Y, vai diễn xuất thần trong phim này đã đưa Trương Quốc Vinh lên hàng ngôi sao quốc tế, đây cũng là vai diễn được nhớ đến nhiều nhất của anh. Năm [[2004]], Bảo tàng Madame Tussauds Hồng Kông đã thực hiện bức tượng sáp Trương Quốc Vinh nhằm tưởng nhớ anh, bức tượng này được làm dựa theo hình mẫu của nhân vật Trình Điệp Y.
 
Năm [[1996]], Trương Quốc Vinh còn cùng [[Củng Lợi]] tham gia ''[[Phong Nguyệt]]'', một bộ phim khác của Trần Khải Ca. Phim này cũng giành được đề cử giải Cành cọ vàng của [[Liên hoan phim Cannes]].
 
Với những vai diễn trên, Trương Quốc Vinh đã được công nhận như một tài năng hiếm có của dòng phim nghệ thuật.
 
Năm [[1998]], ''[[Hồng sắc luyến nhân]]'' (đạo diễn Yip Ying) với vai Jin của Trương Quốc Vinh - một diễn viên Hồng Kông, bất chấp tình hình phức tạp của Hồng Kông lúc bấy giờ, vẫn đạt được thành công tại Trung Quốc đại lục. Vào năm 2004, bộ phim này còn giành được giải Phim nước ngoài được yêu thích nhất tại [[Liên hoan phim Bình Nhưỡng]].
 
Những bộ phim quan trọng khác của Trương Quốc Vinh còn có ''[[Bạch Phát Ma Nữ truyện]]'' (với [[Lâm Thanh Hà]], 1993), ''[[Kim chi ngọc diệp]]'', ''[[Dạ bác ca thanh]]'' ([[1995]]) và ''[[Sắc tình nam nữ]]'' (với [[Thư Kỳ|Thư Kì]], 1996). Ba vai diễn trong ba phim này đã đem lại cho anh sáu đề cử Nam diễn viên xuất sắc nhất của Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông cũng như [[Liên hoan phim Kim Mã]]. Bộ phim Bạch phát ma nữ truyện được coi là một trong những tác phẩm kiếm hiệp tình cảm hay nhất, còn Sắc tình nam nữ, 1 bộ phim [[soft porn]] của đạo diễn Nhĩ Đông Thăng được đề cử phim xuất sắc tại [[Liên hoan phim quốc tế Berlin|LHP Berlin]] 1996.
 
Là một diễn viên đa tài, Trương Quốc Vinh còn thành công ở thể loại phim hài hành động với ''[[Tung hoành tứ hải]]'' (với Chu Nhuận Phát, 1991), ''[[Gia hữu hỉ sự]]'' ([[1992]]), ''[[Đông thành Tây tựu]]'', ''[[Thiên đại chi gia|Đại phú chi gia]]'', và ''[[Kim ngọc mãn đường]]''. Trương Quốc Vinh luôn là một tên tuổi có thể đảm bảo doanh thu phòng vé cho các bộ phim mình tham gia. Từ năm 1990 đến 1998, 13 trong tổng số 39 phim của anh đã lọt vào Top 10 phim có doanh thu phòng vé cao nhất<ref>[http://www.dvdspring.com/Article_Show.asp?ArticleID=12673 1990-1999 Box Office Ranking for Chinese Movies in Hong Kong ("1990-99年历年华语片票房排名")]</ref>.
 
Trong những năm 1989 đến 1995, dù đã giã từ sân khấu ca nhạc, nhưng Trương Quốc Vinh vẫn tiếp tục công việc viết ca khúc. Anh đã sáng tác hơn mười bài hát trong thời gian này, và giành được nhiều đề cử cũng như giải thưởng nhạc phim tại các liên hoan.
 
===Trở lại âm nhạc===
<nowiki> </nowiki>Năm [[1995]], Trương Quốc Vinh cộng tác với Rock Records, và bắt đầu quay trở lại làng nhạc Hồng Kông với vai trò một ca sĩ chính thức. Cùng năm này, anh cho ra đời ''Beloved'', album đầu tiên kể từ khi giã biệt người nghe. ''Beloved'' ngay lập tức đạt được thành công rực rỡ về doanh thu với danh hiệu IFPI Best Selling Album. Năm [[1996]], Trương Quốc Vinh phát hành album gần như được xem là đậm chất nghệ thuật nhất của mình: ''Red''. ''Red'' là album hòa trộn nhiều thể loại nhạc khác nhau như jazz, R&B, trip hop... tạo nên một phong cách âm nhạc khác lạ rất đặc biệt, hoàn toàn khác với phong cách cũ của Trương Quốc Vinh trong thập niên 1980. Album này cũng chứa bài hát cùng tên ''Red'', một ca khúc quan trọng trong sự nghiệp của anh. Năm [[1998]], ''Printemps'', album tiếng Quan Thoại đầu tiên Trương Quốc Vinh được phát hành.
 
Trong năm 1997, Trương Quốc Vinh tổ chức nhạc hội đầu tiên từ khi quay trở lại: ''World Tour 97'', từ 12 tháng 12 năm 1996 đến 17 tháng 6 năm 1997. Cũng giống như phong cách nhạc mới, anh thiệu cho khán giả của mình một hình ảnh hoàn toàn mới của mình. Phần trình diễn được yêu thích nhất của nhạc hội này chính là ca khúc ''Red'', trong đó có đoạn Trương Quốc Vinh khiêu vũ cùng với một vũ công nam trên đôi giày gót cao màu đỏ. ''World Tour 97'' bao gốm tất cả 55 buổi trình diễn: 24 buổi tại Hồng Kông và 31 buổi tại các thành phố khác trên thế giới, trong đó có 6 buổi diễn ra tại Nhật và Trung Quốc đại lục.
Dòng 109:
Năm 2000, Trương Quốc Vinh tổ chức ''Passion Tour'', series nhạc hội cuối cùng của mình. ''Passion Tour'' bao gồm 43 buổi trình diễn, bắt đầu từ 31 tháng 7 năm 2000 đến 16 tháng 4 năm 2001. Đây chính là nhạc hội đặc biệt và xuất sắc nhất của Trương Quốc Vinh. Với ''Passion Tour'', Trương Quốc Vinh lần đầu tiên làm công việc chỉ đạo nghệ thuật, và anh cũng rất thành công như với vai trò ca sĩ. Trương Quốc Vinh mời [[Jean-Paul Gaultier]] thiết kế tất cả tám bộ trang phục trong đợt trình diễn này. Tuy nhiên, những bộ trang phục, cùng với mái tóc dài của anh, lúc đầu đã bị giới truyền thông Hồng Kông công kích gay gắt. Về sau Trương Quốc Vinh công bố rằng Jean-Paul Gaultier đã vô cùng tức giận với những lời công kích không xác đáng đó và nói với anh trong một email, rằng ông sẽ không thiết kế trang phục cho bất kỳ nghệ sĩ châu Á nào nữa. Mặc cho những công kích ban đầu của giới báo chí Hồng Kông, ''Passion Tour'' vẫn gặt hái thành công rực rỡ và được chào đón nhiệt liệt ở khắp nơi, trong đó có [[Nhật Bản]], nơi Trương Quốc Vinh tổ chức tới 10 buổi trình diễn. Cộng với World Tour 97, anh đã lập kỷ lục về việc một nghệ sĩ nước ngoài có 16 nhạc hội tại Nhật. Không chỉ dừng lại ở đó, tại Trung Quốc, Trương Quốc Vinh còn giữ kỷ lục về việc có 2 đêm diễn tại sân vận động Thượng Hải với sức chứa 80.000 người. ''Passion Tour'' cũng đem về cho Trương Quốc Vinh giải Thành tựu quan trọng của Mingpao Weekly và Thành tựu âm nhạc của Chinese Pop Music Media Association.
 
Trong những năm cuối của thập niên 1990, Trương Quốc Vinh đánh dấu một bước ngoặt trong diễn xuất với những vai diễn gai góc. Trong ''[[Lưu tinh ngữ]]'' (流星語, 1999), anh đóng vai một người cha nghèo nhận nuôi một đứa trẻ. Trong ''[[:en:Double_Tap_(film)|Thương Vương]]'' (槍王, 2000), là vai một sát thủ bất ổn tâm lý và tìm thấy niềm thoả mãn trong sự giết chóc. Sự nhập vai thuyết phục của anh thậm chí đã khiến người Trung Quốc có một cụm từ "biến thái theo kiểu Trương Quốc Vinh". Và năm [[2002]], ''[[Dị độ không gian]]'' (異度空間, 2002) với vai một bác sĩ tâm thần khám phá ra vấn đề tâm lý của mình trong quá trình chữa trị cho bệnh nhân. ''Dị độ không gian'' là bộ phim cuối cùng của Trương Quốc Vinh, khán giả tin rằng anh đã đưa cảm xúc thật của mình vào nhân vật trong phim, và bộ phim được đánh giá thành công cũng là nhờ vào diễn xuất của các diễn viên chính. Với những bộ phim này, Trương Quốc Vinh đã nhận được bốn đề cử Nam diễn viên xuất sắc nhất của [[Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông]] và [[Liên hoan phim Kim Mã]].
 
Trong thời gian này, Trương Quốc Vinh cũng bắt đầu thử sức trong vai trò đạo diễn, bộ phim tuyên truyền chống hút thuốc lá dài 45 phút ''[[Yên phi yên diệt]]'' (煙飛煙滅, 2000) là tác phẩm đầu tiên của anh, với sự tham gia của Mai Diễm Phương, Mạc Văn Uý, Vương Lực Hoành. Năm 2002, Trương Quốc Vinh bắt đầu thực hiện ''Stealing Heart'', nhưng bộ phim này đã không thể hoàn thành bởi cái chết đột ngột của anh.
Dòng 118:
Một số sự việc xảy ra sau này, cộng thêm nỗi ám ảnh về hoàn cảnh không êm ấm giữa cha mẹ anh, được xem là nguyên nhân khiến Trương Quốc Vinh không có thêm một phụ nữ nào khác trong đời mình. Thay vào đó, những người quan tâm đến chuyện tình cảm của anh lại được biết nhiều về [[Đường Hạc Đức]] (唐鶴德, Daffy Tong Hok-Tak), người đàn ông đã ở bên Trương Quốc Vinh hơn 20 năm, được giới báo chí Hồng Kông gọi thân mật là Tong Tong (Đường Đường).
 
Đường Hạc Đức sinh năm [[1958]], vốn là con trai đỡ đầu của mẹ Trương Quốc Vinh. Cả hai quen biết nhau từ nhỏ. Năm 13 tuổi, Trương Quốc Vinh đã được gởi sang [[Anh]] du học, đến năm 18 tuổi, anh trở về và gia nhập làng giải trí Hồng Kông. Sau hai cuộc tình ngắn ngủi với Mao Thuấn Quân và Nghê Thi Bội, năm [[1982]], Trương Quốc Vinh gặp lại Đường Hạc Đức trong một buổi tiệc tại khách sạn Intercontinental (Hồng Kông). Mối quan hệ của họ bắt đầu từ năm [[1983]]. Chuyện tình này về hình thức vẫn được giữ bí mật cho tới khi Trương Quốc Vinh mất.
 
Là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của Hồng Kông, Trương Quốc Vinh và chuyện tình cảm của anh được báo giới quan tâm không ít. Bắt đầu từ năm [[1985]], đã có lời đồn đại về mối quan hệ giữa anh và Đường Hạc Đức, và theo thời gian, số lượng bài báo với tít lớn kiểu "Gor gor và Tong lần đầu tiên tay trong tay nơi công cộng" ngày một gia tăng.
 
Chỉ duy nhất trong World Tour 1997, Trương Quốc Vinh mới hé lộ một chút về đời sống riêng tư cho khán giả của mình thấy. Vào buổi tối ngày [[4 tháng 1]], năm 1997, trong phần trình diễn thuộc World Tour 1997, Trương Quốc Vinh giới thiệu mẹ của anh đang ngồi ở hàng ghế khán giả và xin tặng bài hát kế tiếp cho bà. Liền sau đó anh giới thiệu Đường Hạc Đức, người ngồi cùng hàng ghế với mẹ mình, như "người bạn thân thiết nhất", "người tôi dành nhiều tình cảm nhất sau mẹ", và là người thứ hai anh muốn gởi bài hát đó đến. ''[[Ánh trăng nói hộ lòng tôi|Ánh trăng nói hộ lòng anh]]'', Trương Quốc Vinh đã trình diễn ca khúc này một cách tha thiết với những tiếng tán thưởng nhiệt liệt của khán giả. Một cách không chính thức, giới truyền thông và công chúng đã chấp nhận mối quan hệ giữa Trương Quốc Vinh và Đường Hạc Đức, họ bắt đầu thân mật gọi Đường Hạc Đức là "Tong Tong" (Đường Đường) - dựa theo biệt danh "Gor Gor" của Trương Quốc Vinh.
 
Năm 2001, trong một lần bị cánh phóng viên bám theo khi đang đi cùng Đường Hạc Đức, Trương Quốc Vinh mặc dù phát hiện ra bị theo dõi, nhưng thay vì giữ khoảng cách với Đường Đường, đã cố ý nắm lấy tay Đường Đường, đi thẳng không ngoái đầu lại. Sau này, tấm ảnh về khoảnh khắc đó được gọi là "cái nắm tay thế kỷ", hay "cái nắm tay kiên định nhất", "cái nắm tay cảm động nhất.".
Dòng 129:
 
==Sự ra đi==
<nowiki> </nowiki>Trương Quốc Vinh đã [[tự sát]] vào ngày [[1 tháng 4]] năm [[2003]]. Anh nhảy xuống từ tầng 24 của [[khách sạn Mandarin]], thuộc quận trung tâm của Hồng Kông. Di thư để lại nói rằng nguyên nhân cái chết là do suy sụp tinh thần. Trương Quốc Vinh mất khi vừa 46 tuổi.
 
Là một trong những nghệ sĩ được yêu thích nhất châu Á, sự ra đi của Trương Quốc Vinh đã gây một cú sốc lớn cho làng giải trí châu Á và cộng đồng người Hoa trên toàn thế giới<ref>Stephen Kelly, ""WHY DOES IT HAVE TO BE LIKE THIS?" Leslie Cheung, 1956-2003", [http://www.popmatters.com/film/features/030508-cheung.shtml], ngày 8 tháng 5 năm 2003</ref><ref>[http://www.hkvpradio.com/artists/lesliecheung/ "Leslie Cheung, Larger Than Life"]</ref><ref>[http://movies.aol.com/celebrity/leslie-cheung/12724/biography Jonathan Crow, "Leslie Cheung", AOL All Movie Guide]</ref><ref>"Leslie Cheung's Suicide" Gothamist, [http://www.gothamist.com/archives/2003/04/03/leslie_cheungs_suicide.php], April,3rd. 2003</ref><ref>[http://www.lifeinlegacy.com/2003/WIR20030405.html "Life In Legacy - Week of ngày 5 tháng 4 năm 2003"]</ref>. Những tin đồn về nguyên nhân cái chết lan ra với tốc độ chóng mặt khiến cho người thân của Trương Quốc Vinh phải nhanh chóng để anh yên nghỉ và không đưa ra bất cứ bình luận gì. Sau ngày Trương Quốc Vinh mất, người yêu lâu năm của anh, Daffy Đường Hạc Đức cho biết Trương Quốc Vinh đang bị suy sụp tinh thần và phải tìm đến các bác sĩ tâm lý gần một năm nay. Thậm chí Trương Quốc Vinh đã có ý định tự sát vào năm 2002. Về sau, người cháu gái của Trương Quốc Vinh cũng lên tiếng rằng, anh đã mắc phải bệnh nặng và trở nên suy sụp từ trước năm 2003.
 
Mặc cho những cảnh báo về dịch [[Hội chứng hô hấp cấp tính nặng|SARS]] ở Hồng Kông, hàng chục nghìn người - bao gồm giới nghệ sĩ và các fan - từ khắp nơi trên thế giới, đã đến Hồng Kông để dự lễ tưởng niệm Trương Quốc Vinh vào [[7 tháng 4]], năm 2003. Lễ tang của anh diễn ra vào ngày [[8 tháng 4]], năm 2003. Trong hơn một tháng, tin về cái chết của Trương Quốc Vinh đã chiếm hết các mặt báo ở Hồng Kông, cũng như giọng hát của anh cứ vang mãi trong không trung suốt thời gian ấy. Album cuối cùng của Trương Quốc Vinh, ''EverythingMọi thứ Followstheo thecơn Windgió'' (一切隨風), được phát hành ba tháng sau cái chết của anh.
 
Sự ra đi của Trương Quốc Vinh được coi như đánh dấu sự lụi tàn của một kỷ nguyên. Nhà xã hội học Ng Chun-Hung tuyên bố "một thế hệ chính thức khép lại". Học giả âm nhạc Joanna Lee mô tả 26 năm sự nghiệp của Trương là "minh chứng cho sự thay da đổi thịt của Hong Kong", là dấu mốc cho "những năm tháng vàng son của thành phố này".<ref>A queer culture and postcolonical Hong Kong</ref> Nhiều người so sánh cái chết của anh đối với người châu Á cũng giống như cái chết của [[John Lennon]] đối với người phương Tây.
Dòng 182:
|-
|1978
|紅樓春上春 (Erotic Dreams of the Red Chamber (紅樓春上春)
|-
|1978
Dòng 188:
|-
|1980
|喝采Encore (Encore喝采)
|-
|1981
|失業生 (Thất nghiệp sinh (失業生)
|-
|1982
|沖激Energetic 21 (Energetic 沖激21)
|-
|1982
|Crazy Romance (求愛反斗星 (Crazy Romance)
|-
|1982
|Teenage Dreamers (檸檬可樂 (Teenage Dreamers)
|-
|1982
|烈火青春 (Liệt hỏa thanh xuân (烈火青春)
|-
|1983
|鼓手 (The Drummer (鼓手)
|-
|1983
|楊過與小龍女 (Dương Quá và Tiểu Long Nữ (楊過與小龍女)
|-
|1983
|第一次 (First time (第一次)
|-
|1984
|Merry Christmas (聖誕快樂 (Merry Christmas)
|-
|1984
|三文治 (Double Decker (三文治)
|-
|1984
|緣份 (Duyên phận (緣份)
|-
|1984
|Intellectual Trio (龍鳳智多星 (Intellectual Trio)
|-
|1985
|為你鐘情 (For Your Heart Only (為你鐘情)
|-
|1986
|偶然 (Ngẫu nhiên (偶然)
|-
|1986
|英雄本色 (Anh hùng bản sắc (英雄本色)
|-
|1987
|胭脂扣 (Yên chi khâu (胭脂扣)
|-
|1987
|英雄本色 II (Anh hùng bản sắc II (英雄本色 II)
|-
|1987
|倩女幽魂 (Thiến nữ u hồn (倩女幽魂)
|-
|1988
|殺之戀 (Sát chi luyến (殺之戀)
|-
|1989
|新最佳拍檔 (Aces Go Places V: The Terracotta Hit (新最佳拍檔)
|-
|1990
|倩女幽魂 II:人間道 (Thiến nữ u hồn II (倩女幽魂 II:人間道)
|-
|1991
|縱橫四海 (Tung hoành tứ hải (縱橫四海)
|-
|1991
|阿飛正傳 (A Phi chính truyện (阿飛正傳)
|-
|1991
|豪門夜宴 (Hào môn dạ yến (豪門夜宴)
|-
|1992
|藍江傳之反飛組風云 (Nam Kong Legend: Anti-Punk Squad (藍江傳之反飛組風云)
|-
|1992
|家有喜事 (Gia hữu hỉ sự (家有喜事)
|-
|1993
|霸王別姬 (Bá Vương biệt Cơ (霸王別姬)
|-
|1993
|Đông thành tây tựu (射雕英雄傳之東成西就 (Đông thành tây tựu)
|-
|1993
|花田喜事 (Hoa điền hỉ sự (花田喜事)
|-
|1993
|白髮魔女傳 (Bạch Phát Ma Nữ truyện (白髮魔女傳)
|-
|1993
|白髮魔女傳 II (Bạch Phát Ma Nữ truyện II (白髮魔女傳 II)
|-
|1994
|東邪西毒 (Đông Tà Tây Độc (東邪西毒)
|-
|1994
|錦繡前程 (Long and Winding Road (錦繡前程)
|-
|1994
|Over the Rainbow Under the Skirt (記得……香蕉成熟時 II:初戀情人 (Over the Rainbow Under the Skirt)
|-
|1994
|金枝玉葉 (Kim chi ngọc diệp (金枝玉葉)
|-
|1994
|大富之家 (Đại phú chi gia (大富之家)
|-
|1995
|夜半歌聲 (Dạ bán ca thanh (夜半歌聲)
|-
|1995
|Kim ngọc mãn đường (金玉滿堂 hay 滿漢全席 (Kim ngọc mãn đường)
|-
|1996
|風月 (Phong nguyệt (風月)
|-
|1996
Dòng 311:
|-
|1996
|色情男女 (Sắc tình nam nữ (色情男女)
|-
|1996
|新上海灘 (Tân bến Thượng Hải (新上海灘)
|-
|1996
|金枝玉葉 II (Kim chi ngọc diệp II (金枝玉葉 II)
|-
|1996
|大三元 (Đại tam nguyên (大三元)
|-
|1997
|97家有喜事 (Gia hữu hỉ sự 1997 (97家有喜事)
|-
|1997
|春光乍泄 (Xuân quang xạ tiết (春光乍泄)
|-
|1998
|九星報喜 (Cửu tinh báo hỉ (九星報喜)
|-
|1998
|紅色戀人 (Hồng sắc luyến nhân (紅色戀人)
|-
|1998
|Anna Magdalena (安娜瑪德蓮娜 (Anna Magdalena)
|-
|1999
|星月童話 (Tinh nguyệt đồng thoại (星月童話)
|-
|1999
|流星語 (Lưu tinh ngữ (流星語)
|-
|2000
|槍王 (Thương vương (槍王)
|-
|2000
|戀戰沖繩 (Luyến chiến xung trùng (戀戰沖繩)
|-
|2000
|煙飛煙滅 (Yên phi yên diệt (煙飛煙滅)
|-
|2002
|異度空間 (Dị độ không gian (異度空間)
|-
|2008
|東邪西毒 Redux (Đồng Tà Tây Độc Redux (東邪西毒 Redux)
|}
 
Dòng 372:
|-
|1979
|Tình nhân tiễn (情人箭 ('Lover's Arrow')
|-
|1983
|Gió tiếp tục thổi (風繼續吹)
|風繼續吹 ('The Wind Blows On')
|-
|1983
|Sự si tình (一片痴 ('Craziness')
|-
|1984
Dòng 384:
|-
|1985
|夏日精選 - 全賴有你 (Summer Best Collection - All Because of You (夏日精選 - 全賴有你)
|-
|1985
|Chung tình vì em 為你鍾情
|為你鍾情 ('For Your Love Only')
|-
|1986
|張國榮(迷惑我) Leslie Cheung (Allure me) (張國榮 (迷惑我))
|-
|1986
Dòng 396:
|-
|1986
|Đương niên tình (張國榮 (當年情) ('The Past Love')
|-
|1987
|Ái mộ (愛慕) (國語) ('Admire')
|-
|1987
Dòng 417:
|-
|1989
|Mặt bên (張國榮 (側面) ('Side Face' or 'Profile')
|-
|1989
|Salute'89
|-
|1989
Dòng 429:
|-
|1995
|Sủng ái (寵愛)
|寵愛 (Beloved)
|-
|1996
|Hồng (Red)
|-
|1996
|FROM NOW ON (singleSingle)
|-
|1998
Dòng 441:
|-
|1998
|Những năm qua (這些年來 (EP) ('All These Years'EP)
|-
|1999
|陪你倒數 (Cùng em đếm ngược (陪你倒數)
|-
|2000
|BigĐại Heatnhiệt (大熱)
|-
|2000
|Leslie Untitled (EP)
|-
|2001
|Leslie Forever
|-
|2002
Dòng 459:
|-
|2003
|Mọi thứ theo cơn gió (一切隨風)
|一切隨風 ('Everything Follows the Wind')
|}
 
== Giải thưởng - Bình chọn ==