Khác biệt giữa các bản “Franklin D. Roosevelt”

n
clean up
n (clean up)
n (clean up)
[[Tập tin:FDR Inauguration 1933.jpg|phải|nhỏ|Roosevelt và Hoover trong ngày nhậm chức, 1933.]]
 
Khi Roosevelt tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm [[1933]] (32 ngày sau khi Hitler được bổ nhiệm làm Thủ tướng Đức), nước Mỹ đang ở thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử. Một phần tư lực lượng lao động mất việc làm. Nông dân đang khốn đốn vì nông phẩm hạ giá 60%. Sản xuất công nghiệp chỉ còn hơn một nửa so với cùng kỳ năm 1929. Hai triệu người trở thành vô gia cư. Vì thiếu việc làm nên các tổ chức tội phạm và giới sống ngoài pháp luật ngày càng gia tăng. Chiều ngày [[4 tháng 3]], tất cả ngân hàng tại 32 trên 48 tiểu bang cũng như [[Washington, D.C.|Đặc khu Columbia]] đều đóng cửa.<ref>Jonathan Alter, ''The Defining Moment'' (2006), p. 190.</ref> Ngày [[5 tháng 3]], Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại New York không thể mở cửa, do khách hàng hốt hoảng rút một khối lượng lớn tiền mặt trong những ngày trước đó.<ref name="SEK">{{Chú thích web |họ 1=Kennedy|tên 1=Susan Estabrook |url=http://www.time.com/time/printout/0,8816,745289,00.html |ngày tháng= Mar 13, 1933 |tiêu đề= Bottom (The Banking Crisis of 1933)|nhà xuất bản=Time Magazine|ngày truy cập = ngày 2 tháng 3 năm 2008}}</ref>
 
Khởi đầu bài diễn văn nhậm chức, Roosevelt quy kết trách nhiệm cuộc khủng hoảng kinh tế lên giới ngân hàng và doanh nhân tài chính, lòng hám lợi, và nền tảng vị kỷ của [[chủ nghĩa tư bản]]:
"Một trăm ngày đầu tiên" của Roosevelt tập trung vào phần đầu của chiến lược: cứu trợ khẩn cấp. Từ ngày [[9 tháng 3]] đến [[16 tháng 6]] năm 1933, ông đệ trình Quốc hội con số kỷ lục các dự luật, và tất cả đều được thông qua. Tổng thống phải dựa vào những thượng nghị sĩ như [[George Norris]], [[Robert F. Wagner]] và [[Hugo Black]] cũng như nhóm cố vấn chuyên môn được tuyển chọn từ giới trí thức khoa bảng để thiết kế các chương trình hành động. Giống Hoover, Roosevelt xem cuộc Đại Suy thoái một phần là do khủng hoảng niềm tin vì người dân cảm thấy e ngại khi quyết định chi tiêu hoặc đầu tư.
 
Lễ nhậm chức của Roosevelt vào ngày [[4 tháng 3]] năm 1933 diễn ra khi nước Mỹ đang trong tình trạng hốt hoảng vì sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Tình huống này cho ra đời câu nói nổi tiếng của ông: "Điều duy nhất mà chúng ta nên sợ hãi là nỗi sợ của chính mình".<ref name="bankrun">{{Chú thích web |họ 1=Roosevelt |tên 1 = Franklin Delano |url = http://en.wikisource.org/wiki/Franklin_Roosevelt%27s_First_Inaugural_Address | tiêu đề = First Inaugral Address | nhà xuất bản = Wikisource | ngày truy cập = ngày 2 tháng 3 năm 2003}}</ref> Ngay hôm sau, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ngân hàng Khẩn cấp (''Emergency Banking Act'') tuyên bố một "ngày lễ ngân hàng" và thông báo một chương trình cho phép các ngân hàng mở cửa lại. Tuy nhiên, con số các ngân hàng mở cửa sau "ngày lễ" ít hơn con số ngân hàng từng mở cửa trước đây.<ref>Samuelson, Paul Anthony (1964). ''Readings in Economics.'' McGraw-Hill. p. 140</ref> Đây là bước đề nghị đầu tiên của ông về phục hồi kinh tế. Để tạo lòng tin của dân chúng Mỹ đối với hệ thống ngân hàng, Roosevelt ký [[Đạo luật Ngân hàng 1933|Đạo luật Glass-Steagall]] để lập ra [[Federal Deposit Insurance Corporation]] gọi tắt là FDIC (tạm dịch là Công ty Bảo hiểm Tiền gửi ngân hàng Liên bang).
 
[[Tập tin:Lange-MigrantMother02.jpg|180px|nhỏ|phải|Hình chụp "''Bà mẹ di cư''" của [[Dorothea Lange]] miêu tả số phận hẩm hiu của những lao công thu hoạch đậu trong thời kỳ suy thoái. Tâm điểm là [[Florence Owens Thompson]], 32 tuổi, có bảy con, được chụp vào tháng 3 năm 1936]]
Nền kinh tế phát triển nhanh trong nhiệm kỳ của Roosevelt.<ref>''Historical Stats. U.S.'' (1976) series F31</ref> Tuy nhiên, sự phát triển này được theo sau là tình trạng thất nghiệp liên tục ở mức độ cao; tỉ lệ thất nghiệp trung bình trong thời New Deal là 17,2%. Suốt cả các nhiệm kỳ của ông, bao gồm những năm chiến tranh, tỉ lệ thất nghiệp trung bình là 13%.<ref>''Historical Statistics US'' (1976) series D-86; Smiley 1983</ref><ref>Smiley, Gene, "Recent Unemployment Rate Estimates for the 1920s and 1930s," Journal of Economic History, tháng 6 năm 1983, 43, 487–93.</ref> Tổng số thất nghiệp trong suốt nhiệm kỳ của ông nới rộng khoảng 18,31 triệu việc làm bị mất trong khi tỉ lệ gia tăng việc làm trung bình hàng năm dưới thời chính phủ của ông là 5,3%.<ref>{{Chú thích báo|url=http://graphics7.nytimes.com/images/2003/07/02/business/03JOBSch450.gif |publisher=The New York Times |title=Presidents and job growth |accessdate = ngày 20 tháng 5 năm 2006}}</ref>
 
Roosevelt không tăng thuế thu nhập trước khi [[Chiến tranh thế giới thứ hai]] bắt đầu; tuy nhiên [[thuế sổ lương]] (''payroll tax'') cũng bắt đầu được đưa ra nhằm gây quỹ cho chương trình mới là [[An sinh Xã hội (Hoa Kỳ)|An sinh Xã hội]] năm 1937. Ông cũng được Quốc hội Hoa Kỳ cho phép chi tiêu thêm cho nhiều chương trình và kế hoạch khác nhau mà chưa từng có trước đây trong lịch sử Hoa Kỳ. Tuy nhiên, dưới sức ép tài chính do Đại suy thoái gây ra, đa số các tiểu bang đều đưa ra thêm nhiều loại thuế hay tăng thuế trong đó có [[thuế thu nhập]] cũng như [[thuế gián thu]]. Việc Roosevelt đề nghị thu các loại thuế mới đối với tiền tiết kiệm của các công ty đã gây ra tranh cãi lớn trong 1936–37 nhưng cuối cùng chúng bị Quốc hội bác bỏ. Trong thời gian chiến tranh, ông thúc ép tăng tỉ lệ thuế thu nhập thậm chí cao hơn đối với cá nhân (lên đến một tỉ lệ thuế cận biên là 91%) và đại công ty, giới hạn mức lương cao đối với các viên chức lãnh đạo các công ty. Ông cũng phát Lệnh Hành pháp số 9250 vào tháng 10 năm 1942 nhằm tăng tỉ lệ thuế cận biên lên đến 100% đối với những ai có tiền lương vượt trên 25.000 [[đô la Mỹ|đô la]] (sau thuế). Điều đó có nghĩa là giới hạn mức lương cao nhất là lên đến 25.000 đô la (khoảng chừng 334.000 đô la năm 2008).<ref>{{Chú thích web| url=http://www.presidency.ucsb.edu/ws/index.php?pid=16171 | tiêu đề=Franklin D. Roosevelt: Executive Order 9250 Establishing the Office of Economic Stabilization. | tác giả 1=Franklin D. Roosevelt}}</ref><ref>{{Chú thích web| url=http://www.presidency.ucsb.edu/ws/index.php?pid=16342 | tiêu đề=Franklin D. Roosevelt: Letter Against a Repeal of the $25,000 Net Salary Limitation. | tác giả 1=Franklin D. Roosevelt | ngày tháng=6 tháng 2 năm 1943}}</ref><ref>{{Chú thích web| url=http://www.presidency.ucsb.edu/ws/index.php?pid=16363 | tiêu đề=Franklin D. Roosevelt: Letter to the House Ways and Means Committee on Salary Limitation. | tác giả 1=Franklin D. Roosevelt | ngày tháng=15 tháng 2 năm 1943}}</ref> Tuy nhiên lệnh hành pháp này bị Quốc hội hủy bỏ sau đó. Để tài trợ chiến tranh, Quốc hội mở rộng thu thuế đối với hầu hết những ai đi làm đều phải trả thuế thu nhập liên bang. Thuế trả trước (thuế được trừ ra trước khi tiền lương được phát) được giới thiệu vào năm 1943.
 
[[Tập tin:Gdp29-41.svg|nhỏ|450px|Tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ từ tháng 1 năm 1929 đến tháng 1 năm 1941]]<table class="wikitable">
Sự kiện [[Adolf Hitler]] lên nắm quyền tại Đức dấy lên nỗi e sợ bùng nổ một cuộc thế chiến mới. Năm [[1935]], thời điểm Ý xâm lăng [[Ethiopia]], Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Trung lập, ra lệnh cấm vận chuyển vũ khí từ Mỹ đến các nước tham chiến. Roosevelt chống đối đạo luật dựa trên lập luận rằng đạo luật đang trừng phạt nạn nhân của sự xâm lược, trong trường hợp này là Ethiopia, đạo luật cũng hạn chế quyền hạn tổng thống trong nỗ lực trợ giúp các quốc gia thân thiện, song sự ủng hộ của công chúng dành cho đạo luật quá lớn nên Roosevelt bị buộc phải ký ban hành. Năm 1937, Quốc hội thông qua một đạo luật thậm chí còn nghiêm ngặt hơn nhưng khi chiến tranh Trung-Nhật năm [[1937]] bùng nổ thì công luận ủng hộ Trung Hoa do đó Roosevelt được rộng tay giúp đỡ nước này.<ref>Leuchtenberg (1963) ch 12.</ref>
 
Tháng 10 năm 1937, Roosevelt đọc "Bài diễn văn Cách ly" với chủ đích kiềm chế các quốc gia xâm lược. Ông đề nghị rằng các quốc gia hiếu chiến nên bị đối xử như một căn bệnh y học chung và cần phải bị "cách ly".<ref name="quarantine">{{Chú thích web |họ 1=Roosevelt |tên 1=Franklin Delano |url=http://en.wikisource.org/wiki/Quarantine_Speech |tiêu đề=Quarantine the Aggressor|nhà xuất bản=Wikisource |ngày truy cập = ngày 2 tháng 3 năm 2003}}</ref> Trong khi đó ông bí mật thiết lập một chương trình chế tạo tàu ngầm có tầm hoạt động xa có thể phong tỏa [[Nhật Bản]].
 
Tháng 5 năm 1938, một cuộc đảo chính bất thành nổ ra do phong trào phát xít ''Integralista'' tại [[Brasil]] thực hiện. Sau cuộc đảo chính bất thành, chính phủ Brasil cho rằng Đại sứ Đức, Tiến sĩ Karl Ritter, có nhúng tay vào cuộc đảo chính này và tuyên bố rằng ông ta là ''persona non grata''<ref name="autogenerated133">Watt, D.C. ''How War Came The Immediate Origins of the Second World War'', Pantheon Books: New York 1989 page 133.</ref>. Sự việc Brasil tố cáo Đức hậu thuẫn cho cuộc đảo chính ''Integralista'' có một ảnh hưởng khích động đối với chính phủ Roosevelt vì nó gây hoang mang rằng tham vọng của người Đức không chỉ giới hạn trong khu vực châu Âu mà trên toàn thế giới.<ref name="autogenerated133"/> Điều này khiến cho chính phủ Roosevelt thay đổi cách nhìn trước đây về chế độ Đức Quốc xã: một chế độ khó ưa, tuy nhiên trên cơ bản không phải là vấn đề đáng lo đối với Mỹ<ref name="autogenerated133"/>.
 
=== Bầu cử 1944 ===
Roosevelt bắt đầu tuổi 62 vào năm 1944. Sức khỏe của ông càng xuống thấp, ít nhất là từ năm 1940. Trạng thái căng thẳng của bệnh bại liệt và sự gắng sức chịu đựng của ông trong suốt trên 20 năm cộng thêm những năm làm việc căng thẳng và cả đời hút thuốc đã làm hao mòn sức khỏe của ông. Vào thời gian này, Roosevelt bị nhiều thứ bệnh tật trong đó có [[bệnh cao máu]], phổi thủng, [[xơ vữa động mạch]] và các bệnh về tim mạch.<ref>{{Chú thích web|họ 1=Lerner|tên 1=Barron H. |url=http://hnn.us/articles/40225.html|tiêu đề=How Much Confidence Should We Have in the Doctor's Account of FDR's Death?|nhà xuất bản=Hnn.us|ngày tháng = ngày 12 tháng 4 năm 1945 |ngày truy cập=7 tháng 2 năm 2010}}</ref> Mặc dù chưa được xác nhận và công chúng không hề hay biết, có tin lan truyền rằng ông cũng bị mổ để lấy khối u ác tính phía trên mắt trái.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.foxnews.com/story/0,2933,581800,00.html?test=latestnews|tiêu đề=Franklin D. Roosevelt Kept Deadly Disease Hidden for Years - Local News &#124; News Articles &#124; National News &#124; US News |nhà xuất bản=FOXNews.com|ngày tháng=3 tháng 1 năm 2010|ngày truy cập=7 tháng 2 năm 2010}}</ref> Bác sĩ Emanuel Libman, lúc đó là phụ tá nghiên cứu bệnh học ở [[Bệnh viện Núi Sinai, New York|Bệnh viện Núi Sinai]] tại Thành phố New York có nói như sau vào năm 1944: "Không cần biết Roosevelt có được tái đắc cử hay không thì ông cũng sẽ chết vì chảy máu vỏ não trong vòng 6 tháng" (đúng như vậy ông mất chỉ 5 tháng sau đó).<ref>[http://www.patient.co.uk/showdoc/40024946/ Patient.co.uk: Libman-Sacks Endocarditis]. Truy cập 2008-08-11.</ref>
 
Biết rõ nguy cơ là Roosevelt sẽ chết trong nhiệm kỳ thứ tư nên các đảng viên thường trực của Đảng Dân chủ cứ một mực muốn bỏ Phó Tổng thống [[Henry A. Wallace]] vì ông được cho là thân Liên Xô. Sau khi xem xét qua [[James F. Byrnes]] của tiểu bang [[Nam Carolina]], rồi bị Thống đốc [[Indiana]] là [[Henry F. Schricker]] từ chối, Roosevelt thay thế Wallace bằng một thượng nghị sĩ ít tiếng tăm là [[Harry S. Truman]]. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1944, liên danh Roosevelt và Truman thắng 53% phiếu bầu phổ thông và thắng tại 36 tiểu bang chống lại đối thủ là Thống đốc New York, [[Thomas E. Dewey]].
 
==Ủng hộ viên của Hướng đạo==
Roosevelt là một người rất tích cực ủng hộ [[hướng đạo]], bắt đầu từ năm 1915. Năm 1924, ông trở thành chủ tịch Quỹ hội Hướng đạo Thành phố New York và lãnh đạo việc thành lập Trại Hướng đạo Sông Ten Mile từ năm 1924–1928 để phục vụ các hướng đạo sinh của Thành phố New York.<ref>{{Chú thích web|tiêu đề=History of the Ten Mile River Scout Camps|nhà xuất bản=TMR Scout Museum |url=http://tmrmuseum.org/history/history-1924-1969.htm|ngày truy cập = ngày 15 tháng 2 năm 2008}}</ref> Khi làm thống đốc năm 1930, [[Hội Nam Hướng đạo Mỹ]] (BSA) đã vinh danh ông bằng giải thưởng cao nhất của họ dành cho người lớn, đó là [[Giải Trâu Bạc]] được tặng thưởng để ghi công sự đóng góp ủng hộ xuất sắc mà người được tặng thưởng dành cho giới trẻ trên cấp bậc quốc gia.<ref>{{Chú thích báo|title=Roosevelt Honored by the Boy Scouts|date=24 tháng 8 năm 1930|publisher=[[The New York Times]] |url=http://select.nytimes.com/gst/abstract.html?res=F00F15F8355C1B728DDDAD0A94D0405B808FF1D3&scp|trang=21|accessdate = ngày 22 tháng 4 năm 2008}}</ref> Sau này, khi làm tổng thống, Roosevelt là chủ tịch vinh dự của Hội Nam Hướng đạo Mỹ và tham dự [[trại họp bạn]] toàn quốc đầu tiên được tổ chức tại [[Washington, D.C.]] năm 1937.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.scoutingmagazine.org/issues/0303/d-wwas.html |họ 1=Campbell|tên 1=Thomas P.|năm=2003|tiêu đề=A Best Friend in the White House|work=[[Scouting (tạp chí)|Scouting]]|nhà xuất bản=Boy Scouts of America}}</ref>
 
==Nhà sưu tầm tem==