Khác biệt giữa các bản “Thế giới Ả Rập”

n
clean up
(Tập tin Riyadh_city.jpg đã bị bỏ ra khỏi bài viết vì nó đã bị xóa ở Commons bởi Y.haruo vì lý do: Copyright violation, Internet images: Stolen Re)
n (clean up)
}}
}}
'''Thế giới Ả Rập''' ({{lang-ar|العالم العربي}} ''{{transl|ar|al-‘ālam al-‘arabī}}''; chính thức: '''quê hương Ả Rập''', {{lang|ar|الوطن العربي}} ''{{transl|ar|al-waṭan al-‘arabī}}''),<ref>{{citeChú thích web|last1họ=Khan|first1tên=Zafarul-Islam|titletiêu đề=The Arab World – an Arab perspective|url=http://www.milligazette.com/news/6666-the-arab-world-an-arab-perspective|website=www.milligazette.com|languagengôn ngữ=en}}</ref><ref>{{citeChú thích web|last1họ=Phillips|first1tên=Christopher|titletiêu đề=Everyday Arab Identity: The Daily Reproduction of the Arab World|url=https://books.google.com/books?id=C8djTtq2v5AC&pg=PA94&lpg=PA94&dq=#v=onepage&q&f=false|publishernhà xuất bản=Routledge|languagengôn ngữ=en|datengày tháng=12 November 2012}}</ref><ref>{{citeChú thích web|last1họ=Mellor|first1tên=Noha|last2họ 2=Rinnawi|first2tên 2=Khalil|last3họ 3=Dajani|first3tên 3=Nabil|last4họ 4=Ayish|first4tên 4=Muhammad I.|titletiêu đề=Arab Media: Globalization and Emerging Media Industries|url=https://books.google.com/books?id=GoU-NRhn1agC&pg=PT10&lpg=PT10&dq#v=onepage&q&f=false|publishernhà xuất bản=John Wiley & Sons|languagengôn ngữ=en|datengày tháng=20 May 2013}}</ref> còn gọi là '''dân tộc Ả Rập''' ({{lang|ar|الأمة العربية}} ''{{transl|ar|al-ummah al-‘arabīyah}}'') hoặc '''các quốc gia Ả Rập''',<ref>{{citeChú thích web|titletiêu đề=Majority and Minorities in the Arab World: The Lack of a Unifying Narrative|url=http://jcpa.org/article/majority-and-minorities-in-the-arab-world-the-lack-of-a-unifying-narrative/|website=Jerusalem Center For Public Affairs}}</ref> hiện gồm có 22 quốc gia nói tiếng Ả Rập thuộc [[Liên đoàn Ả Rập]].<ref name="Frishkopf" /> Lãnh thổ của các quốc gia Ả Rập trải dài từ [[Đại Tây Dương]] tại phía tây đến [[biển Ả Rập]] tại phía đông, và từ [[Địa Trung Hải]] tại phía bắc đến [[Sừng châu Phi]] và [[Ấn Độ Dương]] tại phía đông nam.<ref name="Frishkopf" /> Tổng dân số thế giới Ả Rập là khoảng 422 triệu người theo số liệu năm 2012, trên một nửa trong số đó dưới 25 tuổi.<ref>{{citeChú thích web |url=http://www.unesco.org/new/en/unesco/events/prizes-and-celebrations/celebrations/international-days/world-arabic-language-day/ |titletiêu đề=World Arabic Language Day |work=UNESCO |datengày tháng=18 December 2012 |accessdatengày truy cập=12 February 2014}}</ref>
 
Trong thời Trung đại, thế giới Ả Rập đồng nghĩa với các đế quốc Ả Rập trong lịch sử. Chủ nghĩa dân tộc Ả Rập trỗi dậy vào nửa cuối của thế kỷ 19, cùng với các phong trào dân tộc chủ nghĩa khác bên trong [[Đế quốc Ottoman]]. Liên đoàn Ả Rập được thành lập vào năm 1945 nhằm đại diện cho lợi ích của nhân dân Ả Rập và đặc biệt là theo đuổi thống nhất chính trị các quốc gia Ả Rập; một kế hoạch được gọi là [[chủ nghĩa liên Ả Rập]].<ref name="encyclopedia1">{{citeChú thích web|url=http://www.encyclopedia.com/doc/1P1-113946363.html |titletiêu đề=Arab League Sends Delegation to Iraq |publishernhà xuất bản=Encyclopedia.com |datengày tháng=8 October 2005 |accessdatengày truy cập=13 February 2011}}</ref><ref name="encyclopedia2">{{citeChú thích web|url=http://www.encyclopedia.com/doc/1P1-113950671.html |titletiêu đề=Arab League Warns of Civil War in Iraq |publishernhà xuất bản=Encyclopedia.com |datengày tháng=8 October 2005 |accessdatengày truy cập=13 February 2011}}</ref>
 
==Định nghĩa==
Biểu hiện ngôn ngữ và chính trị cố hữu trong thuật ngữ ''Ả Rập'' thường chiếm ưu thế so với mối quan tâm về dòng dõi. Trong các quốc gia Ả Rập, tiếng Ả Rập tiêu chuẩn hiện đại là ngôn ngữ duy nhất được chính phủ sử dụng. Ngôn ngữ của một quốc gia riêng biệt được gọi là Darija, có nghĩa là "ngôn ngữ thường nhật/thông tục."<ref>Wehr, Hans: ''Dictionary of Modern Written Arabic'' (2011); Harrell, Richard S.: ''Dictionary of Moroccan Arabic'' (1966)</ref> Darija chia sẻ phần lớn từ vựng với tiếng Ả Rập tiêu chuẩn, song nó cũng vay mượn đáng kể từ nền Berber (Tamazight),<ref>Tilmatine Mohand, Substrat et convergences: Le berbére et l'arabe nord-africain (1999), in Estudios de dialectologia norteaafricana y andalusi 4, pp 99–119</ref> cũng như ở mức độ rộng rãi hơn là từ tiếng Pháp, ngôn ngữ của những người thực dân trước kia tại [[Maghreb]]. Darija được nói và hiểu lẫn nhau tại các quốc gia Maghreb ở mức độ khác nhau, đặc biệt là Maroc, Algeria và Tunisia, song không thể hiểu được đối với người nói các phương ngữ Ả Rập khác, chủ yếu là đối với những người tại Ai Cập và Trung Đông.<ref>{{citeChú thích web|url=http://www.ethnologue.com/show_language.asp?code=ary|titletiêu đề=Arabic, Moroccan Spoken|publishernhà xuất bản=}}</ref>
 
===Định nghĩa lãnh thổ tiêu chuẩn===
[[Somalia]] hiện có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Ả Rập và [[tiếng Somalia]], cả hai đều thuộc [[ngữ hệ Phi-Á]]. Tiếng Ả Rập được nhiều cư dân tại phía bắc và các khu vực đô thị tại phía nam nước này nói rộng rãi, song tiếng Somalia là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất, và bao gồm nhiều từ mượn từ tiếng Ả Rập.<ref>Diana Briton Putman, Mohamood Cabdi Noor, ''The Somalis: their history and culture'', (Center for Applied Linguistics: 1993), p.15.</ref> Tương tự, [[Djibouti]] có hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Ả Rập và tiếng Pháp, và họ cũng công nhận một vài ngôn ngữ quốc gia; đa số dân chúng nước này nói tiếng Somalia và Afar, song tiếng Ả Rập cũng được sử dụng rộng rãi trong giao dịch và các hoạt động khác.<ref name="Legum">Colin Legum, ''Africa contemporary record: annual survey and documents'', Volume 13, (Africana Pub. Co.: 1985), p.B-116.</ref>[[Comoros]] có ba ngôn ngữ chính thức là tiếng Ả Rập, [[tiếng Comoros]] và tiếng Pháp; tiếng Comoros được nói phổ biến nhất còn tiếng Ả Rập có tính quan trọng về tôn giáo, và tiếng Pháp gắn với hệ thống giáo dục.
 
[[Chad]], [[Eritrea]]<ref name="CIA">{{CIA World Factbook link|er|Eritrea|accessdate=28 February 2013}}</ref> và [[Israel]] đều công nhận tiếng Ả Rập là một ngôn ngữ chính thức, song họ không phải là quốc gia thành viên của Liên đoàn Ả Rập, song cả Chad và Eritrea đều là các quốc gia quan sát viên và có một lượng lớn cư dân nói tiếng Ả Rập. Israel không phải là bộ phận của thế giới Ả Rập, theo một số định nghĩa,<ref name="Kronholm"/><ref>Rinnawi: xvi</ref> công dân người Ả Rập của Israel có thể đồng thời được nhìn nhận là một bộ phận cấu thành của thế giới Ả Rập. [[Iran]] có khoảng 1,5 triệu người nói tiếng Ả Rập.<ref>{{citeChú thích web|titletiêu đề=Middle East {{ndash}} Iran |url=https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/ir.html |work=[[The World Factbook]] |accessdatengày truy cập=24 October 2013 |deadurlurl hỏng=yes |archiveurlurl lưu trữ=https://web.archive.org/web/20120203093100/https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/ir.html |archivedatengày lưu trữ=3 February 2012 |df= }}</ref> Người Ả Rập tại Iran chủ yếu tập trung tại [[Ahvaz]] thuộc [[tỉnh Khuzestan]] tại tây nam; những người khác sống trong [[tỉnh Bushehr]] và [[Hormozgan (tỉnh)|Hormozgan]] cùng thành phố [[Qom]]. [[Mali]] và [[Senegal]] công nhận [[Hassaniya]] là một ngôn ngữ quốc gia, đây là phương ngữ Ả Rập của dân tộc thiểu số [[Moor]].<ref name="Hassaniyya">{{citeChú thích web|url=http://www.ethnologue.com/show_language.asp?code=mey |titletiêu đề=Hassaniyya - A language of Mauritania |publishernhà xuất bản=Ethnologue.com |datengày tháng= |accessdatengày truy cập=17 October 2011}}</ref> [[Hy Lạp]] và [[Síp]] cũng công nhận tiếng Ả Rập Maron Síp theo Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số. Ngoài ra, Malta mặc dù không phải là bộ phận của thế giới Ả Rập, song [[tiếng Malta]] của đảo quốc này thân thuộc về ngữ pháp với tiếng Ả Rập Maghreb.
 
==Cac quốc gia==
| {{flag|Maroc}}
| 9 || 446.550
|| 3,3% || bao gồm [[Tây Sahara]] (266.000 &nbsp;km²).
| {{UN_Population|Morocco}} || style="text-align:right;" | 35
| 10 || 79
| {{flag|Syria}}
| 12 || 185.180
|| 1,4% || Bao gồm phần [[Cao nguyên Golan]] (1.200 &nbsp;km²) đang bị [[Israel]] chiếm đóng.
| {{UN_Population|Syrian Arab Republic}} || style="text-align:right;" | 55
| 7 || 118
Trong thế giới Ả Rập, tiếng Ả Rập tiêu chuẩn hiện đại có vai trò là ngôn ngữ chính thức cấp nhà nước, nó có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập cổ điển, và các phương ngữ Ả Rập được sử dụng làm ngôn ngữ chung. Nhiều ngôn ngữ độc lập khác cũng được sử dụng, chúng tồn tại từ trước khi tiếng Ả Rập được truyền bá. Điều này tương phản với tình hình trong [[thế giới Hồi giáo]] rộng lớn hơn, như tại Iran, Pakistan và Afghanistan, chữ viết Ba Tư-Ả Rập được sử dụng còn tiếng Ả Rập chủ yếu là ngôn ngữ tế lễ, song không có vị thế chính thức ở cấp quốc gia hoặc là một ngôn ngữ địa phương.
 
[[Người Ả Rập]] chiếm khoảng một phần tư trong số 1,5 tỉ người Hồi giáo trong thế giới Hồi giáo.<ref>{{citeChú thích web|titletiêu đề=How Many Muslims Are There in the World?|url=http://islam.about.com/od/muslimcountries/a/population.htm|website=About.com Religion & Spirituality}}</ref>
 
===Tôn giáo===
Đa số dân chúng trong thế giới Ả Rập trung thành với Hồi giáo, và tôn giáo này có vị thế chính thức tại hầu hết các quốc gia trong số đó. Luật [[Shariah]] hiện diện một phần trong hệ thống tư pháp tại một số quốc gia (đặc biệt là [[bán đảo Ả Rập]]), trong khi các quốc gia khác có tư pháp thế tục. Đa số các quốc gia Ả Rập tin theo Hồi giáo Sunni, riêng [[Iraq]] và [[Bahrain]] có cộng đồng [[Hồi giáo Shia]] chiếm đa số, còn Liban, Yemen và Kuwait có một thiểu số Shia lớn. Tại Ả Rập Xê Út, các nhóm Ismail cũng tồn tại trong vùng Al-Hasa ở miền đông và thành phố Najran ở miền nam. Hồi giáo [[Ibadi]] được hành đạo tại [[Oman]], tín đồ Ibadi chiếm khoảng 75% số người Hồi giáo tại Oman.
 
Ngoài ra còn có các tín đồ Cơ Đốc giáo trong thế giới Ả Rập, đặc biệt là tại Ai Cập, Syria, Liban, Iraq, Jordan và Palestine. Các cộng đồng [[Giáo hội Chính thống giáo Copt|Copt]], [[Giáo hội Maronite|Maronite]] và [[Giáo hội Phương Đông Assyria|Assyria]] cô lập lần lượt tồn tại trong thung lũng sông Nin, Levant và miền bắc Iraq. Các cộng đồng người [[ Người Assyria|người Assyria]], [[người Armenia|Armenia]], Syriac-Arame và Cơ Đốc giáo Ả Rập phân bổ khắp Iraq, Syria, Liban và Jordan, nhiều cộng đồng bị thu hẹp do các xung đột khác nhau trong khu vực.
 
Các cộng đồng dân tộc-tôn giáo nhỏ hơn trên khắp thế giới Ả Rập bao gồm [[người Yazidi]], [[Yarsan]] và [[người Shabak|Shabak]] (chủ yếu tại Iraq), [[Druze]] (chủ yếu tại Syria và còn có tại Liban, Jordan) và Mandaean (tại Iraq). Trước đây từng có một cộng đồng thiểu số Do Thái với quy mô đáng kể trên khắp thế giới Ả Rập, tuy nhiên xung đột Ả Rập-Israel thúc đẩy họ di cư hàng hoạt trong giai đoạn 1948–72. Ngày nay, vẫn còn các cộng đồng Do Thái nhỏ, như khoảng 3.000 người tại Maroc.
 
===Giáo dục===
Theo [[UNESCO]], tỷ lệ trung bình về người trưởng thành biết chữ (từ 15 tuổi) trong khu vực là 76,9%. Tại Mauritania và Yemen, tỷ lệ này thấp hơn nhiều mức trung bình với chỉ hơn 50%. Trong khi đó, Syria, Liban, Palestine và Jordan có tỷ lệ người trưởng thành biết chữ trên 90%. Tỷ lệ này được cải thiện đều đặn, và số lượng tuyệt đối người trưởng thành không biết chữ giảm từ 64 triệu xuống khoảng 58 triệu từ năm 1990 đến năm 2000-2004. Về tổng thể, chênh lệch giới tính về tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành ở mức cao, và nữ giới chiếm hai phần ba số người không biết chữ. Chỉ số bình đẳng giới GPI trung bình về biết chữ của người trưởng thành là 0,72, và bất bình đẳng giới có thể nhận thấy tại Ai Cập, Maroc và Yemen. GPI của Yemen chỉ là 0,46 và tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành là 53%.<ref>{{citeChú thích web|url= |titletiêu đề=[http://unesdoc.unesco.org/images/0014/001489/148972E.pdf] }}&nbsp;{{small|(374&nbsp;KB)}}</ref>
 
Theo một nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, trong thế giới Ả Rập, một cá nhân trung bình đọc bốn trang sách mỗi năm và cứ 12.000 dân thì có một đầu sách mới được phát hãnh mỗi năm.<ref name=RIA>{{citeChú thích web |url=http://en.rian.ru/world/20081111/118255514.html |titletiêu đề=Average Arab reads 4 pages a year |authortác giả=RIA Novosti |datengày tháng=11 November 2008 |work= |publishernhà xuất bản= |accessdatengày truy cập=16 August 2010}}</ref> Quỹ Tư tưởng Ả Rập Al-Fikr AlArabi tường thuật rằng chỉ hơn 8% cư dân các quốc gia Ả Rập khao khát nhận được một nền tảng giáo dục.<ref name=RIA/>
 
Tỷ lệ biết chữ của thanh thiếu niên cao hơn người trưởng thành, tỷ lệ biết chữ của thanh thiếu niên (15–24 tuổi) tại khu vực Ả Rập tăng từ 63,9% lên 76,3% từ năm 1990 đến năm 2002. Tỷ lệ trung bình của các quốc gia Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh là 94%, tiếp đến là [[Maghreb]] với 83,2% và [[Mashriq]] với 73,6%.
===Thành phố lớn===
 
Danh sách các thành phố lớn nhất theo địa giới chính thức :<ref>{{citeChú thích web|titletiêu đề=Demographia World Urban Areas|url=http://www.demographia.com/db-worldua.pdf|publishernhà xuất bản=Demographia|accessdatengày truy cập=20 July 2017}}</ref>
{| class="wikitable sortable"
|- bgcolor="#ececec"
Liên đoàn Ả Rập được thành lập vào năm 1945 nhằm đại diện cho các lợi ích của người Ả Rập, đặc biệt là nhằm thúc đẩy thống nhất chính trị của thế giới Ả Rập, một kế hoạch được gọi là [[chủ nghĩa liên Ả Rập]].<ref name="encyclopedia1"/><ref name="encyclopedia2"/> Từng có một số nỗ lực ngắn ngủi nhằm mục đích thống nhất như vậy vào giữa thế kỷ 20, đáng chủ ý là [[Cộng hòa Ả Rập Thống nhất]] từ năm 1958 đến năm 1961. Trụ sở thường trực của liên đoàn đặt tại [[Cairo]], song được tạm thời chuyển đến [[Tunis]] trong thập niên 1980 sau khi Ai Cập bị trục xuất do ký kết Hoà ước Trại David với Israel vào năm 1978. Chủ nghĩa liên Ả Rập hầu như đã bị từ bỏ từ thập niên 1980, và bị thay thế bằng [[chủ nghĩa liên Hồi giáo]], và các chủ nghĩa dân tộc riêng lẻ khác.
 
Các thế lực thực dân châu Âu quan tâm hạn chế đối với thế giới Ả Rập, [[Đế quốc Anh]] quan tâm nhất đến [[kênh đào Suez]] do đây là một tuyến đường đến [[Ấn Độ thuộc Anh]]. Tình hình kinh tế và địa chính trị của thế giới Ả Rập thay đổi đột ngột sau khi khám phá được các trữ lượng dầu mỏ lớn trong thập niên 1930, cùng với đó là gia tăng mạnh nhu cầu dầu mỏ tại phương Tây do cách mạng công nghiệp lần thứ hai. Vịnh Ba Tư đặc biệt phong phú về loại nguyên liệu thô chiến lược này: Năm quốc gia ven vịnh Ba Tư là Ả Rập Xê Út, Iraq, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Kuwait và Qatar nằm trong mười quốc gia xuất khẩu dầu mỏ hoặc khí đốt lớn nhất thế giới. Tại Bắc Phi, Algeria và Libya là các quốc gia xuất khẩu dầu khí quan trọng. Ngoài ra, Bahrain, Ai Cập, Tunisia và Sudan cũng có các trữ lượng dầu khí nhỏ nhưng đáng kể. Dầu khí có tác động quan trọng đối với chính trị khu vực, thường tạo điều kiện xuất hiện quốc gia lợi tức, dẫn đến bất bình đẳng về kinh tế giữa các quốc gia giàu dầu mỏ và nghèo dầu mỏ, và dẫn đến nhập khẩu lao động quy mô lớn. Thế giới Ả Rập được cho là sở hữu khoảng 46% trữ lượng dầu mỏ được chứng minh của thế giới và một phần tư trữ lượng khí đốt thiên nhiên của thế giới.<ref>{{citeChú thích web|url=https://www.economist.com/news/special-report/21580630-even-rich-arab-countries-cannot-squander-their-resources-indefinitely-haves-and|titletiêu đề=The haves and the have-nots|publishernhà xuất bản=|via=The Economist}}</ref>
 
Chủ nghĩa Hồi giáo và chủ nghĩa liên Hồi giáo trỗi dậy trong thập niên 1980. Đảng Hồi giáo chiến binh [[Hezbollah]] tại Liban được thành lập vào năm 1982. Chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo trở thành một vấn đề trong thế giới Ả Rập từ thập niên 1970 đến thập niên 1980. [[Anh em Hồi giáo]] hoạt động tại Ai Cập kể từ năm 1928, các hành động quân sự của họ hạn chế trong các nỗ lực ám sát giới lãnh đạo chính trị.
[[Nội chiến Liban]] là cuộc xung đột nhiều phương diện tại Liban, kéo dài từ năm 1975 đến năm 1990 và kết quả là khoảng 120.000 người thiệt mạng. Chiến tranh Tây Sahara là một cuộc đấu tranh vũ trang giữa Mặt trận Polisario Sahrawi với Maroc từ năm 1975 đến năm 1991, là giai đoạn quan trọng nhất trong xung đột Tây Sahara. Xung đột bùng phát sau khi thực dân Tây Ban Nha rút đi và binh sĩ Maroc tiến vào Tây Sahara, còn Mặt trận Polisario muốn lập một quốc gia độc lập trên lãnh thổ này. [[Nội chiến Somalia]] bắt đầu từ năm 1991, khi một liên minh các tổ chức chống đối có vũ trang lật đổ chính phủ quân sự nắm quyền từ lâu. Các phe phái khác nhau sau đó bắt đầu cạnh tranh để giành ảnh hưởng trong khoảng trống quyền lực.
 
Ngày nay, các quốc gia Ả Rập có đặc điểm là những người cai trị chuyên quyền và thiếu kiểm soát dân chủ. ''[[Chỉ số dân chủ]]'' 2016 phân loại Liban, Iraq, Palestine là "chế độ hỗn hợp", Tunisia là "chế độ dân chủ không hoàn thiện", và toàn bộ các quốc gia Ả Rập còn lại là "chế độ độc tài". Tương tự, báo cáo của [[Freedom House]] vào năm 2011 phân loại [[Comoros]] và [[Mauritania]] là "chế độ dân chủ tuyển cử",<ref>{{citeChú thích web|url=http://freedomhouse.org/template.cfm?page=22&year=2008 |titletiêu đề=Freedom House Country Report |publishernhà xuất bản=Freedomhouse.org |datengày tháng=10 May 2004 |accessdatengày truy cập=13 February 2011 |deadurlurl hỏng=yes |archiveurlurl lưu trữ=https://web.archive.org/web/20110510005050/http://freedomhouse.org/template.cfm?page=22&year=2008 |archivedatengày lưu trữ=10 May 2011 |df= }}</ref> Liban, Kuwait và Maroc là "tự do một phần", và các quốc gia Ả Rập còn lại là "không tự do".
 
Quân đội Iraq xâm chiếm Kuwait vào năm 1990, dẫn đến [[Chiến tranh vùng Vịnh]] 1990-1991. Ai Cập, Syria và Ả Rập Xê Út gia nhập một liên quan đa quốc gia chống Iraq. Jordan và Palestine thể hiện ủng hộ Iraq, dẫn đến căng thẳng trong quan hệ giữa nhiều quốc gia Ả Rập. Sau chiến tranh, thứ gọi là "Tuyên ngôn Damascus" chính thức hoá một liên minh hành động phòng thủ Ả Rập chung trong tương lai giữa Ai Cập, Syria và các quốc gia Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh.<ref>Egypt's Bid for Arab Leadership: Implications for U.S. Policy, By Gregory L. Aftandilian, Published by Council on Foreign Relations, 1993, {{ISBN|0-87609-146-X}}, pages 6–8</ref>
Các hình thức nhà nước khác biệt đều có đại diện trong thế giới Ả Rập: Một số quốc gia theo chế độ quân chủ: Ả Rập Xê Út, Bahrain, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Jordan, Kuwait, Morocco, Oman và Qatar. Các quốc gia khác theo chế độ cộng hoà, song các cuộc bầu cử dân chủ thường bị nhìn nhận là dàn xếp, do gian lận hay đe doạ các đảng đối lập, hạn chế nghiêm trọng tự do dân sự và bất đồng chính trị, ngoại lệ là Liban, Tunisia, Palestine và gần đây là Mauritania.
 
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa liên Ả Rập tìm cách thống nhất toàn bộ các quốc gia nói tiếng Ả Rập thành một thực thể chính trị. Chỉ có Syria, Iraq, Ai Cập, Sudan, Tunisia, Libya và Bắc Yemen từng cân nhắc tham gia [[Cộng hoà Ả Rập Thống nhất]]. Phân chia trong lịch sử, ganh đua trong chủ nghĩa dân tộc địa phương, và khoảng cách địa lý là những nguyên nhân chính khiến chủ nghĩa liên Ả Rập thất bại. Chủ nghĩa dân tộc Ả Rập là một thế lực mạnh mẽ khác trong khu vực, đạt đỉnh cao vào giữa thế kỷ 20 và được nhiều nhà lãnh đạo tuyên bố, gồm tại Ai Cập, Algeria, Libya, Syria và Iraq. Các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập trong giai đoạn này gồm [[Gamal Abdel Nasser]] của Ai Cập, [[Ahmed Ben Bella]] của Algeria, [[Michel Aflaq]], [[Salah al-Din al-Bitar]], [[Zaki al-Arsuzi]], [[Constantin Zureiq]] và [[Shukri al-Kuwatli]] của Syria, [[Ahmed Hassan al-Bakr]] của Iraq, [[Habib Bourguiba]] của Tunisia, [[Mehdi Ben Barka]] của Maroc và [[Shakib Arslan]] của Liban. Các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc Ả Rập gần đây hơn là [[Muammar al-Gaddafi]] của Libya, [[Hafez al-Assad]] và [[Bashar al-Assad]] của Syria.
 
Các quốc gia Ả Rập thường duy trì quan hệ mật thiết song phát triển và củng cố các bản sắc dân tộc riêng biệt, với các thực tế xã hội, lịch sử và chính trị trong 60 năm qua. Điều này biến ý tưởng về một quốc gia-dân tộc liên Ả Rập ngày càng ít khả thi. Ngoài ra, việc bùng phát Hồi giáo chính trị dẫn đến nhấn mạnh hơn vào chủ nghĩa liên Hồi giáo thay vì bản sắc liên Ả Rập trong một số nhóm Hồi giáo Ả Rập. Chủ nghĩa dân tộc Ả Rập từng phản đối các phong trào Hồi giáo vì chúng là mối đe doạ đối với thế lực của họ, và nay đối phó với chúng khác nhau vì lý do hiện thực chính trị.<ref>{{citeChú thích web|titletiêu đề=Arab Nationalism: Mistaken Identity by Martin Kramer |url=http://www.geocities.com/martinkramerorg/ArabNationalism.htm |work= |archiveurlurl lưu trữ=https://www.webcitation.org/5knIeZR5F?url=http://www.geocities.com/martinkramerorg/ArabNationalism.htm |archivedatengày lưu trữ=25 October 2009 |deadurlurl hỏng=no |df=dmy }}</ref>
 
===Biên giới hiện tại===
 
===Kinh tế===
Các quốc gia Ả Rập hầu hết đều là các quốc gia đang phát triển, và có nguồn thu xuất khẩu từ dầu khí, hoặc bán các nguyên liệu thô khác. Trong những năm gần đây, thế giới Ả Rập có tăng trưởng kinh tế đáng kể, phần lớn là nhờ giá dầu khí tăng cao, như tăng gấp ba lần từ năm 2001 đến năm 2006, song cũng nhờ các nỗ lực của một số quốc gia nhằm đa dạng hoá nền tảng kinh tế của họ. Sản xuất công nghiệp đã tăng lên, như lượng thép sản xuất từ năm 2004 đến năm 2005 tăng từ 8,4 lên 19 triệu tấn. Tuy nhiên, con số 19 triệu tấn vẫn chỉ chiếm 1,7% sản lượng thép toàn cầu, và vẫn kém sản lượng của các quốc gia như Brasil.<ref>{{citeChú thích web|url=http://www.worldsteel.org |titletiêu đề=World Steel Association - Home |publishernhà xuất bản=Worldsteel.org |datengày tháng= |accessdatengày truy cập=17 October 2011}}</ref>
 
Các tổ chức kinh tế chính trong thế giới Ả Rập là [[Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh]] (GCC) gồm các quốc gia Ả Rập ven vịnh Ba Tư, và Liên minh Ả Rập Maghreb (UMA) gồm các quốc gia Bắc Phi. GCC đạt được một số thành công trong lĩnh vực tài chính và tiền tệ, bao gồm các dự án nhằm hình thành một tiền tệ chung trong vùng vịnh Ba Tư. Từ khi thành lập vào năm 1989, thành tựu quan trọng nhất của UMA là xây dựng một tuyến xa lộ dài 7.000 &nbsp;km băng qua Bắc Phi từ Mauritania đến biên giới Libya-Ai Cập. Trong những năm gần đây, có các thuật ngữ mới được tạo ra để xác định một khu vực kinh tế lớn hơn: [[MENA]] (Trung Đông và Bắc Phi) ngày càng trở nên thông dụng, đặc biệt là nhờ ủng hộ của chính quyền Hoa Kỳ.
 
Tính đến tháng 8 năm 2009, theo như tường thuật thì Ả Rập Xê Út là nền kinh tế Ả Rập mạnh nhất theo [[Ngân hàng Thế giới]].<ref>[http://www.infoprod.co.il/article/2/283 World Bank: Saudi Arabia, strongest Arab economy] {{webarchive|url=https://web.archive.org/web/20091130182205/http://www.infoprod.co.il/article/2/283 |date=30 November 2009 }}</ref> Ả Rập Xê Út đứng đầu về tổng GDP, đây là nền kinh tế lớn thứ 11 châu Á. Các quốc gia Ả Rập tiếp theo là Ai Cập và Algeria, họ cũng là các nền kinh tế lớn thứ nhì và ba tại châu Phi (sau Nam Phi) vào năm 2006, Xét theo GDP bình quân thì Qatar là quốc gia giàu có nhất thế giới.
Biên giới chính trị của thế giới Ả Rập tạo ra các cộng đồng thiểu số Ả Rập trong các quốc gia phi Ả Rập tại vùng [[Sahel]] và [[Sừng châu Phi]] cũng như tại Síp, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran; song cũng tạo ra các cộng đồng thiểu số phi Ả Rập trong các quốc gia Ả Rập. Tuy nhiên, địa lý cơ bản về biển, hoang mạc và núi tạo ra biên giới tự nhiên bền vững cho khu vực.
 
Phần thế giới Ả Rập thuộc châu Phi bao gồm toàn bộ phần phía bắc của lục địa này. Bộ phận này giáp với biển ở ba phía là tây, bắc và đông, và giáp với hoang mạc hoặc đất bụi hoang mạc ở phía nam. Đường bờ biển giáp Đại Tây Dương dài khoảng 2000 &nbsp;km. Nouakchott là thủ đô cực tây của thế giới Ả Rập và nằm trên rìa Đại Tây Dương của Sahara.
 
Phần thế giới Ả Rập thuộc châu Á gồm có bán đảo Ả Rập, hầu hết Levant (ngoại trừ Síp và Israel), hầu hết Lưỡng Hà (ngoại trừ các phần thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và Iran) và vùng vịnh Ba Tư. Bán đảo Ả Rập gần giống với một hình chữ nhật nghiêng về bờ biển Đông Bắc Phi, có trục hướng đến Thổ Nhĩ Kỳ và châu Âu.
==Ghi chú==
===Chú thích===
{{ReflistTham khảo|group=Note}}
 
===Nguồn===
{{ReflistTham khảo|30em}}
 
==Tham khảo==
[[Thể loại:Hệ thống phân loại quốc gia]]
[[Thể loại:Vùng văn hóa]]
[[CategoryThể loại:Sừng châu Phi]]
[[Thể loại:Trung Đông]]
[[Thể loại:Bắc Phi]]