Khác biệt giữa các bản “Hãn quốc Kokand”

không có tóm lược sửa đổi
 
== Lịch sử ==
Hãn quốc Kokand được thành lập năm 1709 khi tiểu vương [[Shaybanid]] [[Shahrukh Bey|Shahrukh]], của bộ lạc Minh [[Uzbeks]], tuyên bố độc lập khỏi [[Khả Hãn quốc Bukhara]], thiết lập một nhà nước ở phần phía đông của Thung lũng Fergana. Ông đã xây dựng một thành trì làm kinh đô của mình tại thành nhỏ nhỏ Kokand, do đó bắt đầu từ Khả hãn quốc Kokand. Con trai ông, Abd al-Karim, và cháu trai, Narbuta Biy, mở rộng thành, nhưng cả hai bị buộc phải quy phục là xứ bảo hộ, và cống nộp cho [[Nhà Thanh]] ở Trung Quốc giữa năm 1774 và 1798.<ref name=":52">{{Cite book|url=https://books.google.com/books?id=otHfBQAAQBAJ&pg=PA33&lpg=PA33&dq=kokand+umar+khan&source=bl&ots=v0lYYynPRe&sig=qMbGesMlXV9WUv8jtubwQ_JS3Rs&hl=en&sa=X&ved=0ahUKEwjm6Ljt4cDXAhVM7iYKHZGlDN0Q6AEIPTAD#v=onepage&q=kokand%20umar%20khan&f=false|title=Ferghana Valley: The Heart of Central Asia|last=Starr|first=S. Frederick|date=2014-12-18|publisher=Routledge|isbn=9781317470663|language=en}}</ref><ref>[[National Encyclopedia of Uzbekistan|OʻzME]]. Birinchi jild. [[Tashkent]], 2000</ref>
<!--
Con trai của Narbuta Biy, Alim đều tàn nhẫn và hiệu quả. Ông đã thuê một đội quân lính đánh thuê cao nguyên Tajik, và chinh phục nửa phía tây của Thung lũng Fergana, bao gồm Khujand và Tashkent. Ông bị ám sát bởi anh trai Umar năm 1810. Con trai của Umar, Mohammed Ali (Madali Hãn), lên ngôi năm 1821 ở tuổi 12. Trong triều đại của mình, Khả Hãn quốc Kokand đạt đến lãnh thổ lớn nhất. Khả Hãn quôc Kokand cũng đặt các Khojas của Kashgar như Jahangir Khoja. Năm 1841, sĩ quan trưởng Anh Arthur Conollythất bại trong việc thuyết phục các khả hãn quốc khác nhau bỏ qua những khác biệt của họ, trong nỗ lực chống lại sự xâm nhập ngày càng tăng của [[Đế quốc Nga]] vào khu vực. Vào tháng 11 năm 1841, ông rời Kokand cho Bukhara trong một nỗ lực xấu xa để giải cứu đồng tu Đại tá Charles Stoddart, và cả hai bị hành quyết vào ngày 24 tháng 6 năm 1842 theo lệnh của Emir Nasrullah Hãn của Bukhara.
192

lần sửa đổi