Khác biệt giữa các bản “Chủ nghĩa thần bí”

không có tóm lược sửa đổi
n
*Deep intrinsic connection to ultimate reality (Satori trong [[Phật giáo Đại thừa]], [[Đạo đức|Đức]] trong [[Lão giáo]])
*Liên kết với [[Thần Linh]] ( Henosis trong [[Thuyết Tân Plato]] và hợp nhất với [[đại ngã]] (Brahma-Prapti) hoặc [[Phạm-Niết bàn]] (Brahma-Nirvana) trong Ấn Độ Giáo, fana trong Đạo Xu-Fi, buông xả trong Tích-Khắc Giáo)
*Phong thánh <maybe> hoặc Thần thánh hóa, hợp nhất với Thần Linh and a participation of the Divine[[thiên Naturetính]] ( [[Công Giáo La Mã]][[Giáo Hội Chínhchính Thốngthống]]).
*Innate Knowledgetánh (Sahaja and Svabhava introng Hinduism[[Hindu giáo]]; Irfan and Sufism introng [[Hồi Islamgiáo]]).
*Trải nghiệm bản chất hạnh phúc thực sự ( Đại định Svarupa-Avirbhava trong Ấn Độ Giáo và Phật Giáo).
*Khám phá ánh sáng của thượng đế trong mỗi người (Hindu giáo, [[phái giáo hữu]], Tích khắc gi).
*Seeing the Light, or "that of God," in everyone (Hinduism, Religious Society of Friends (Quakers), Sikhism).
*Tình yêu Thiên Chúa, như trong Hindu giáo, [[Bahá'í]], [[Thiên Chúa giáo]], [[Hồi giáo]], [[Tích-khắc giáo]] và rất nhiều các truyền thống tâm linh khác.
*The Love of God, as in the Hinduism, Baha'i Faith, Christianity, Islam, Sikhism and many other spiritual traditions.
*[[Thiền]] - [[Đại thủ ấn]] và [[đại cứu cánh]], quá trình hợp nhất với nguyên lý [[bất nhị]] trong [[Phật giáo Tây Tạng]].
 
Sự [[giác ngộ]] hoặc sự [[khai sáng]] là hai từ chung cho hiện tượng này, xuất phát từ tiếng Latin illuminatio (được áp dụng trong những bài kinh [[Thiên Chúa giáo]] trong thế kỷ 15) và được sử dụng trong những bản dịch [[tiếng Anh]] của kinh Phật nhưng được sử dụng rộng rãi để miêu tả trạng thái thần bí đạt được, bất kể [[đức tin]]. Entheogens đã được sử dụng truyền thống bởi nhiều người từ nhiều [[tôn giáo]] khác nhau tại nhiều nơi trên thế giới để trợ giúp tín đồ huyền học.
 
Huyền học tạo ra những nhánh phụ trong những tôn giáo lớn hơn – Như Kabbalah trong [[Do Thái giáo]], Đạo Xu-fi trong [[Hồi giáo]], Vedanta và Kashmir Shaivism trong Ấn Độ giáo, huyền học [[Kitô giáo]] (được cho là Thuyết Ngộ đạo) trong Kitô giáo - Nhưng thường được often treated skeptically và đôi khi được tổ chức riêng rẽ, bởi những nhóm chính thống trong những tôn giáo nhất định, do nhấn mạnh sự [[huyền bí]] của những trải nghiệm trực tiếp và livingcuộc realizationsống overvới <hiệnviệc thực hóa?>hành giáo pháp. Huyền học taken by skeptics or mainstream adherents as mere obfuscation <đôi khi được sửthực dụnghiện bởi những người hoài nghi và những tín đồ chính thống nhằmnhững chỉ trong phạm vi của gâysự hoang mang>, dù huyền học cho thấy họ đang are offering clarity of a different order or kind. Trong thực tế, một tiền đề cơ bản của gần như tất cả những con đường [[huyền bí]], không phân biệt tôn giáo là những trải nghiệm của divine consciousness,sự giác ngộ và hợp nhất với thần linh thông qua những con đường huyền bí, luôn rộng mở cho những ai sẵn sàng thực hiện theo một hệ thống những phương pháp huyền bí.
 
Một vài truyền thống huyền bí có thể bác bỏ tính hợp lý của những truyền thống khác. Tuy nhiên, những truyền thống huyền bí thường có xu hướng chấp nhận những truyền thống huyền bí hơn so với truyền thống của họ. Điều này được dựa trên tiền đề rằng những trải nghiệm thần thánh có thể đưa những truyền thống huyền bí khác trở thành truyền thống của mình khi cần thiết.Một số, tuy không phải tất cả, truyền thống huyền bí còn chấp nhận ý tưởng rằng truyền thống của họ có thể không phải là phiên bản thực tế nhất của thực hành thần bí.