Khác biệt giữa các bản “Tetsuko Kuroyanagi”

sửa
(sửa)
'''Tetsuko Kuroyanagi''' (Hán tự 黒柳 徹子 - Hắc Liễu Triệt Tử) (sinh ngày 9 tháng 8 năm 1933 tại Tokyo)<ref>Famous People of Japan: Tetsuko KUROYANAGI Teaching materials. Archive by Institute for Japanese Studies, at Ohio State University.</ref> là một nữ diễn viên, người dẫn chương trình talk show, tác giả viết sách thiếu nhi, cố vấn tự nhiên của quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên [[Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên|WWF]], [[Đại sứ thiện chí của UNICEF|đại sứ thiện chí của]] [[Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc|UNICEF]] nổi tiếng người Nhật Bản. Bà được biết đến với công tác từ thiện và được xem như người nổi tiếng Nhật Bản đầu tiên được ghi nhận ờ tầm quốc tế. Năm 2006 [[Donald Richie]] đã viết về bà như là một người phụ nữ nổi tiếng và đáng mến mộ nhất Nhật Bản trong cuốn sách của mình ''Japanese Portraits: Pictures of Different People (Những Chân dung người Nhật: Bức tranh về những con người khác nhau).''<ref>{{Chú thích web|url=https://giaitri.vnexpress.net/sao/tetsuko-kuroyanagi-95341/tieu-su.html|tiêu đề=Tác giả: Tetsuko Kuroyanagi|website=https://giaitri.vnexpress.net}}</ref>
{{Thông tin nhân vật
| name = Tetsuko Kuroyanagi<br />{{Nihongo2|黒柳 徹子}}
}}
== Năm tháng đầu đời ==
Kuroyanagi sinh tại Nogisaka, Tokyo vào năm 1933. Cha bà là một nghệ sĩ [[Vĩ cầm|violin]] và bè trưởng đàn dây. Biệt danh khi bé của bà là Toto-chan (トットちゃん), theo cuốn hồi ký tự chuyện của bà năm 1981, khi còn nhỏ bà theo học tại trường tiểu học Tomoe (ともえ学園 - Tomoe Gakuen). Sau đó, bà học [[Đại học Âm nhạc Tokyo|đại học Âm Nhạc Tokyo]] 東京音楽大学 ngành [[opera]] vì bà có ý định trở thành ca sĩ [[opera]]. Tuy nhiên sau khi tốt nghiệp, bà lại đến với nghiệp diễn xuất và ngành giải trí truyền hình khi tham gia vào đoàn phim phát thanh truyền hình Tokyo 東京放送劇団,Tōkyō Hōsō Gekidan và đào tạo tại studio Mary Tarcai tại [[Thành phố New York|New York]]. Kết quả là, bà trở thành nữ diễn viên Nhật Bản đầu tiên ký hợp đồng với Japan Broadcasting Corporation ([[NHK]] - Hãng phát thanh truyền hình Nhật Bản 日本放送協会)
 
== Sự nghiệp ==
 
Năm 1981 đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp của Kuroyanagi khi bà xuất bản cuốn sách thiếu nhi [[Totto-chan: Cô bé bên cửa sổ]] (窓ぎわのトットちゃん ''Madogiwa no Totto-chan).'' Trong đó bà viết về giá trị của sự giáo dục vượt ra khỏi khuôn khổ bình thường mà và nhận được tại trường tiểu học Tomoe trong giai đoạn [[Chiến tranh thế giới thứ hai|thế chiến thứ 2]], và thầy giáo của bà Sosaku Kobayashi 小林創作). Cuốn sách là cuốn tự truyện về thời thơ ấu của bà, đến khi được phát hành đã trở thành cuốn sách được bán chạy nhất lịch sử Nhật Bản<ref>{{Chú thích web|url=http://content.time.com/time/magazine/article/0,9171,921341-1,00.html|tiêu đề=Little Girl at the TV Window|website=http://content.time.com}}</ref>. Cuốn sách được dịch ra tiếng Anh lần đầu năm 1984 bởi Dorothy Britton và được xuất bản tại hơn 30 quốc gia. Tác phẩm lần đầu tiên chính thức xuất bản tại Việt Nam năm 2011 với bản dịch trực tiếp từ nguyên tác của Trương Thùy Lan.<ref>{{Chú thích web|url=https://news.zing.vn/totto-chan-va-cau-chuyen-ve-mot-nen-giao-duc-trong-mo-post723593.html|tiêu đề=Totto-chan và câu chuyện về một nền giáo dục trong mơ|website=https://news.zing.vn}}</ref>
 
1981 marked a turning point in her career, as Kuroyanagi published her children book ''Totto-Chan: The Little Girl at the Window'', in which Kuroyanagi wrote about the values of the unconventional education that she received at Tomoe Gakuen elementary school during World War II, and her teacher Sosaku Kobayashi. The book is considered her childhood memoir, and upon release, it became the bestselling book in Japanese history. The book was first translated to English in 1984 by Dorothy Britton, and it was published in more than 30 countries.
 
== Công tác từ thiện ==
Kuroyanagi được quốc tế biết đến với hoạt động từ thiện và vận động gây quỹ của mình. Bà lập quỹ Totto được đặt tên theo nhân vật chính trong cuốn tự truyện của mình [[Totto-chan: Cô bé bên cửa sổ]]. Quỹ chuyên dùng để đào tạo những diễn viên khiếm thính, thực hiện mong muốn của bà trong việc đưa nhà hát đến với người khiếm thính.
 
Năm 1984, để ghi nhận công tác từ thiện của Kuroyanagi, bà đã được chỉ định làm [[Đại sứ thiện chí của UNICEF|đại sứ thiện chí của Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc]] [[Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc|UNICEF]] và trở thành người châu Á đầu tiên giữ cương vị này. Trong suốt những năm cuối thập niên 80 đến thập niên 90, bà đã đến thăm nhiều đất nước đang phát triển tại [[châu Á]][[châu Phi]] để thực hiện công tác từ thiện và nhiệm vụ đại sứ thiện chí của mình, giúp đỡ trẻ em chịu cảnh bệnh tật và chiến tranh cũng như nâng cao nhận thức của quốc tế về hoàn cảnh của trẻ e ở những nước nghèo. Chuyến thăm của và đến [[Angola]] năm 1989 được ghi nhận là chuyến thăm của yếu nhân Nhật Bản đầu tiên đến đây và đánh một dấu mốc lên quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Kuroyanagi đã kêu gọi hơn 20 triệu USD cho các chương trình của [[Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc|UNICEF]] mà bà tham gia, thông qua chiến dịch gây quỹ trên truyền hình. Bà cũng dùng tiền bản quyền từ cuốn sách của mình [[Totto-chan: Cô bé bên cửa sổ]] để đóng góp cho UNICEF.
 
Năm 1997, Kuroyanagi published xuất bản cuốn sách "Những đứa trẻ của Totto-chan" (トトちゃんの子供たち) dựa trên những trải nghiệm của mình khi làm [[đại sứ thiện chí của UNICEF]] từ 1984 đến 1996. Bà còn là giám đốc chi nhánh của quỹ [[Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên|WWF]] tại Nhật Bản.
 
Kuroyanagi đã 2 lần mang nhà hát khiếm thính quốc gia Mỹ [[America's National Theater of the Deaf]] đến Nhật Bản và cùng diễn với họ bằng [[ngôn ngữ ký hiệu]].
 
== Sự tôn vinh ==
Với sự tham gia vào ngành giải trí truyền hình và truyền thông của mình, Kuroyanagi đã giành giải thưởng phát thanh truyền hình văn hóa Nhật Bản, là sự tôn vinh cao nhất trong ngành truyền hình tại Nhật. Kể từ đó đến nay, bà đã được bình chon là nhân vật truyền hình được yêu thích nhất Nhật Bản 14 lần với show " Căn phòng của Tetsuko".
 
Năm 2000, bà trở thành người đầu tiên được nhận giải thưởng "Lãnh đạo toàn cầu cho trẻ em" (Global Leadership for Children Award) do [[Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc|UNICEF]] lập ra nhân kỷ niệm lần thứ mười hội nghị thượng đỉnh thế giới về trẻ em toàn World Summit for Children năm 1990. Vào tháng 5 năm 2003, Bà được nhận [[huân chương Thụy Bảo]] (瑞宝章 Zuihō-shō Order of the Sacred Treasure) vì những cống hiến của mình cho trẻ em trên thế giới trong suốt hai thập kỷ.
 
== Tham khảo ==