Khác biệt giữa các bản “Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam”

không có tóm lược sửa đổi
'''Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam''', gọi tắt là '''Giải phóng quân''' hoặc '''Quân Giải phóng''', được hình thành với lực lượng ban đầu là những các đội vũ trang tự vệ, vũ trang tuyên truyền của các địa phương miền Nam sau Hiệp định Genève 1954. Đây là một bộ phận của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] ở chiến trường miền Nam Việt Nam, nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ. Theo Hiệp định, chỉ có lực lượng quân sự chính quy phải tiến hành tập kết còn các lực lượng vũ trang tự vê, lực lượng chính trị và tuyên truyền được tập kết tại chỗ. Về mặt pháp lý, Quân Giải phóng miền Nam có vị thế độc lập và ngang bằng với Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau ngày 30/4/1975, Quân giải phóng được hợp nhất với Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được tổ chức thành hệ thống toàn miền và mang tên quân giải phóng miền Nam Việt Nam để phù hợp với tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam theo chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và chỉ thị của Tổng quân ủy<ref name="bqp"/><ref>[http://tapchiqptd.vn/zh/tim-hieu-truyen-thong-quan-su/quan-giai-phong-mien-nam-viet-nam--buoc-phat-trien-moi-ve-to-chuc-luc-luong-vu-trang-nhan-/220.html Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - bước phát triển mới về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước]</ref>. Quân đội này được thành lập ngày 5 tháng 02 năm 1961 và chịu sự chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam.
 
Quân đội này là một tổ chức tham gia vào Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam và chịu sự quản lý hành chính của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam<ref name="bqp"/>. Trong thời gian chiến tranh, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội Nhân dân Việt Nam có sự độc lập về hình thức. Quân giải phóng Miền Nam chịu sự chỉ đạo công khai của Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam Việt Nam và phía sau là Trung ương Cục Miền Nam và Quân ủy Miền. Tuy nhiên các thiết chế này và cả Quân giải phóng đều chịu sự chỉ đạo từ bí mật đến bán công khai của Trung ương Đảng Lao động, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh (Trung ương Cục Miền Nam là một bộ phận của Trung ương Đảng đặt tại miền Nam, Quân ủy Miền là bộ phận của Quân ủy Trung ương tại miền Nam còn Bộ Tư lệnh Miền là cơ quan tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh, không phải là các thiết chế độc lập, về công khai chỉ đạo trên toàn Miền Nam, nhưng trong nội bộ chỉ chỉ đạo từ mặt trận B2 trở vào, còn các mặt trận và cấp ủy các địa phương phía trên do Trung ương chỉ đạo trực tiếp). Trong suốt giai đoạn [[Chiến tranh Việt Nam]], lực lượng này bị Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa gọi là ''Việt Cộng'', hay VC (tiếng Việt đọc là "Vi xi")<ref>[http://www.britannica.com/EBchecked/topic/628305/Viet-Cong-VC Việt Cộng], Encyclopaedia Britannica</ref>. Cách gọi này thường gây lẫn lộn do "Việt Cộng" cũng là cách gọi ngắn của Mỹ đối với [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] còn quân Giải phóng lại là lực lượng vũ trang của tổ chức chính trị này. Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức sáp nhập với Quân đội Nhân dân Việt Nam.
 
Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị: Lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam sẽ mang tên "Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam". Cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, chỉ thị của Tổng Quân ủy tháng 1 năm 1961 nêu rõ: ''"Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]], do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo. Đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của nó. Mục tiêu chiến đấu của quân đội đó là kiên quyết thực hiện cương lĩnh, đường lối của Đảng, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, thực hiện dân tộc độc lập, người cày có ruộng tiến lên xã hội chủ nghĩa"''. Các binh sỹ hành quân từ miền Bắc vào chi viện cũng sẽ thuộc biên chế của Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam, cùng tham gia sinh hoạt và chiến đấu với những chiến sĩ bộ đội xuất thân ở miền Nam, không có sự phân biệt vùng miền nào trong biên chế.
Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam (Bộ chỉ huy Miền) "là cơ quan tiền phương" của Bộ Tổng tư lệnh, gồm Tư lệnh, phó tư lệnh, chính ủy và phó chính ủy, tham mưu trưởng, phó tham mưu trưởng, chủ nhiệm chính trị, chủ nhiệm hậu cần, trực tiếp chỉ đạo quân sự trên chiến trường B2 (bao gồm các quân khu 6, 7, 8, 9, thành phố Sài Gòn-Gia Định và một số tỉnh trực thuộc).<ref>{{Chú thích web | url = http://www.sggp.org.vn/hosotulieu/2008/4/150523/ | tiêu đề = Bài 1: Trước ngưỡng cửa cuộc quyết chiến chiến lược cuối cùng | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 9 tháng 2 năm 2015 | nơi xuất bản = [[Sài Gòn Giải Phóng|Báo Sài Gòn Giải Phóng Online]] | ngôn ngữ = }}</ref>. Về công khai khi thành lập năm 1963 (gắn với Đảng Nhân dân cách mạng và Mặt trận), nó chỉ huy toàn bộ Quân giải phóng ở miền Nam, và Tư lệnh, chính ủy,...được gọi là Tư lệnh Quân giải phóng, Chính ủy Quân giải phóng...nhưng thực tế từ 1964 là địa bàn B2.
 
==Quan hệ với [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]]==
 
Mối quan hệ giữa [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam được mô tả cụ thể bởi sách lược ''"Tuy hai mà một, tuy một mà hai"'' của phía Cách mạng có nghĩa là ''"hai về mặt pháp lý; một về mặt chính trị, đường lối, lý tưởng, sách lược và hành động"''<ref>[http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/ky-uc-ve-nha-ngoai-giao-xuan-thuy-o-hoi-nghi-paris-2241730.html Ký ức về nhà ngoại giao Xuân Thủy ở Hội nghị Paris], VnExpress, 2/9/2012</ref>. Sách lược đó nhằm đề cao vị trí, vai trò và tính độc lập của Mặt trận và Chính phủ cách mạng lâm thời và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, tập hợp thêm lực lượng và các xu hướng khác nhau ở trong nước và trên thế giới<ref name="nhandan.com.vn">[http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/14969902-.html Hội nghị Paris về Việt Nam và sách lược ngoại giao "tuy hai mà một, tuy một mà hai"], Báo Nhân dân, 17/09/2010</ref>. Thực tế sách lược này bắt nguồn từ việc Việt Nam vốn dĩ đã là một quốc gia thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập sau Cách mạng tháng Tám nhưng tạm thời bị chia cắt về mặt quân sự và chỉ quân sự mà thôi bởi Hiệp định Geneva 1954. Do đó, tại hai miền có hai nhà nước, hai nhà nước khác nhau ([[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] không thừa nhận nhà nước [[Việt Nam Cộng hòa]] mà chỉ thừa nhận nhà nước [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]]) nhưng với cùng mục tiêu, cùng lý tưởng<ref name="nhandan.com.vn"/>. Việc đồng ý cho Chính phủ Cách mạng lâm thời [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] tham gia Hội nghị Paris chứng tỏ [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] đã chấp nhận vị thể pháp lý của [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]], thừa nhận tại miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, ba nhà nước quản lý. Hệ quả là [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] chấp nhận sự độc lập về pháp lý giữa [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] và [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] cũng như sự độc lập về pháp lý giữa [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam<ref>[http://dantri.com.vn/xa-hoi/duong-di-den-ban-dam-phan-paris-bai-2-1359177553.htm Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 2)], Báo Dân trí, 21/01/2013</ref><ref>[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=797&articleId=10001595 Hội nghị Pari về Việt Nam, cuộc đàm phán hòa bình gay go nhất thế kỷ XX], CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ Việt Nam, 11/08/2010</ref><ref>[http://dantri.com.vn/xa-hoi/duong-di-den-ban-dam-phan-paris-bai-1-1359159636.htm Đường đi đến bàn đàm phán Paris (Bài 1)], Báo Dân trí, 21/01/2013</ref> Theo [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]], [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] và các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là lực lượng chiến đấu trên chiến trường miền Nam, và trong nội bộ và công khai sau này là một bộ phận của [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]]<ref>[http://ubvk.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/chinh-tri?p_p_id=EXT_ARTICLEVIEW&p_p_lifecycle=0&p_p_col_id=center-left-1&p_p_col_count=2&_EXT_ARTICLEVIEW_groupId=10217&_EXT_ARTICLEVIEW_articleId=491959&_EXT_ARTICLEVIEW_version=1.0&_EXT_ARTICLEVIEW_redirect=%2Fweb%2Fguest%2Fhome Tổng tiến công 1975 - Sự khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam], Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài - Thành phố Hồ Chí Minh, 8 tháng 08 năm 2018</ref><ref>[http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchinhsachthanhtuu?categoryId=797&articleId=10001596 Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam], CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ, 10/08/2010</ref>.
 
'''Giai đoạn 1954-1958''': lực lượng vũ trang [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] rút về miền Bắc, là [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tạm thời tập kết miền Bắc chờ tổng tuyển cử. Ở miền Nam không còn tồn tại lực lượng vũ trang chính quy, tuy nhiên sau đó do chính quyền [[Quốc gia Việt Nam]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] vi phạm Hiệp định khi tiến hành đàn áp chính trị, tôn giáo<ref>[http://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=477 LỜI TUYÊN BỐ CỦA HỘI NGHỊ LIÊN TỊCH BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ ỦY BAN TRUNG ƯƠNG MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỀ VIỆC ĐÒI HỌP LẠI HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ], VĂN KIỆN QUỐC HỘI TOÀN TẬP - TẬP I (1945 - 1960)</ref>, một số đơn vị vũ trang tái thành lập, hoạt động cơ bản bí mật, do các xứ, khu, tỉnh ủy địa phương chỉ đạo, ngoài Bắc không công khai chỉ đạo, để tỏ thiện chí tôn trọng Hiệp định<ref>[http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=28977&print=true Cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về lập lại hòa bình ở Việt Nam], Tạp chí Cộng sản, 4/9/2014</ref>.
'''Giai đoạn 1962-1969''': [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] thành lập, sau đó Đảng bộ Miền Nam đổi thành Đảng Nhân dân Cách mạng (đảng cộng sản miền nam), về pháp lý tách rời với các lực lượng chính trị ngoài Bắc, có đường lối chính trị riêng (chỉ nói cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không nói xã hội chủ nghĩa), nhưng về chính trị không tách rời với [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]], Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn tiếp tục khẳng định quyền là người đại diện hợp pháp cho nhân dân Việt Nam ở cả hai miền vốn có từ Tổng tuyển cử 1946. Do đó, về mặt pháp lý Quân giải phóng miền Nam được xem là lực lượng vũ trang của [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]], độc lập với [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] chiến đấu cho lý tưởng trong Cương lĩnh Mặt trận, chịu chỉ đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng, chứ không phải Đảng Lao động, nhưng vẫn gắn bó về mặt chính trị với Quân đội Nhân dân Việt Nam, và chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính việc [[Hoa Kỳ]] và [[Việt Nam Cộng hòa]] chấp nhận để [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] tham gia Hội nghị Pa-ri với tư cách là một trong hai chính phủ tại miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] độc lập với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và có lực lượng vũ trang riêng, do đó về mặt pháp lý Quân Giải phóng độc lập với [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]]
 
Binh lính ngoài Bắc tình nguyện gia nhập Quân Giải phóng để chiến đấu tại miền Nam do trong đơn, hồ sơ, thẻ quân nhân thì họ là người của Quân Giải phóng<ref>[http://www.tienphong.vn/xa-hoi-phong-su/nhung-chuyen-it-biet-venbsphon-7-van-ho-so-can-bo-di-b-ky-2-71756.tpo Những chuyện ít biết về hơn 7 vạn hồ sơ cán bộ đi B - Kỳ 2], 03/01/2007, Báo Tiền phong</ref>. Vì phía Mỹ không thực rõ mối quan hệ giữa Đảng Lao động ở miền Bắc và Đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam nên họ mới cho rằng quân đội ngoài Bắc vào do Đảng Lao động lãnh đạo, quân hình thành tại chỗ đo Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo, trong khi phía cách mạng vẫn gọi chung là Quân Giải phóng và do Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo, chứ không công khai Đảng Lao động lãnh đạo, và cũng không rạch ròi phân biệt thế nào là Quân Giải phóng hay Quân đội Nhân dân. Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam chỉ đạo trực tiếp, nhận lệnh bí mật từ Bộ Tổng tư lệnh. Từ năm 1964 do chiến tranh leo thang, bộ đội ngoài bắc vào nhiều hơn, nên Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp nắm từ Trung Trung Bộ trở ra (từ vỹ tuyến 17 lên phía Bắc), Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam chỉ nắm từ B2 trở vào (từ vỹ tuyến 17 vào Nam). Về bí mật, Bộ Tổng tư lệnh đưa lệnh tới Bộ Tư lệnh miền chỉ đạo Tư lệnh Quân khu V và Trị Thiên. Các đơn vị từ bờ Bắc đánh trực tiếp qua vĩ tuyến 17, tài liệu bên cách mạng vẫn gọi Quân Giải phóng, mang phù hiệu Quân Giải phóng, bên kia gọi là [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]].
 
'''Giai đoạn 1969-1973''': [[Cộng hòa Miền Nam Việt Nam]] thành lập. Về công khai, [[Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam]] không còn mối quan hệ phụ thuộc với [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] mà gắn với chính thể mới. [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] không sửa Hiến pháp về vấn đề chủ quyền, nhưng về pháp lý, phân định rạch ròi trách nhiệm của hai chính phủ quản lý ở hai miền. Về biên chế và pháp lý, binh lính tình nguyện từ Bắc vào vẫn thuộc Quân Giải phóng<ref>[http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=35427&print=true Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước], Tạp chí Cộng sản, 30/9/2015</ref>. Điều khoản Hiệp định Paris không nói rõ về 3 quân đội ở miền Nam nhưng cũng cho thấy thừa nhận 3 lực lượng quân đội ở miền nam, và Quân Giải phóng và [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] ở miền Nam là 2 lực lượng riêng biệt (Hiệp định chỉ ghi là các bên chứ không nói rõ là có những bên nào nhưng thừa nhận sự tồn tại của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] ở miền Nam).
 
'''Giai đoạn 1973-1975''': Hiệp định Paris thừa nhận sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam (Vỹ tuyến 17 chỉ được coi là giới tuyến quân sự tạm thời chứ không được coi là biên giới quốc gia), vì thế lần đầu tiên từ 1969, vào năm 1973 Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nghe báo cáo quân sự trong Nam, thể hiện rõ chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam không phải là 2 chính thể tách rời mà vẫn có sự liên quan tới nhau, nói cách khác là 02 nhà nước trong 01 quốc gia.
 
Để thi hành hiệp định, danh sách các lãnh đạo chính trị và quân sự ở miền Nam Việt Nam (bao gồm lãnh đạo Mặt trận, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ở cấp tỉnh và trung ương, lãnh đạo các đảng phái, tổ chức tham gia Mặt trận, lãnh đạo chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cấp tỉnh và trung ương, đại diện chính quyền tại Việt Nam Dân chủ cộng hòa, lãnh đạo Trung ương Cục, lãnh đạo Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam) đều được công bố.
Tại [[Hội nghị La Celle Saint Cloud]], ông Đinh Bá Thi, phó trưởng phái đoàn [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] khẳng định mọi lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam đều nằm dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.<ref>Bài phát biểu của ông Đinh Bá Thi, Quyền trưởng đoàn của Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại phiên họp thứ 31 của Hội nghị La Celle Saint Cloud, ngày 07-12-1973</ref>
 
Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam bao gồm cả đại diện Quân giải phóng và [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]]. Lúc này, dựa trên các điều khoản về nguyên tắc một đổi một sự tiêu hao chiến tranh trong Hiệp định Paris, [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]] công khai ủng hộ [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]]. Về mặt pháp lý, [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn là hai lực lượng riêng biệt, [[Cộng hòa miền Nam Việt Nam|Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam]] được thừa nhận là người đại diện hợp pháp của nhân dân miền Nam, [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] là người đại diện hợp pháp của nhân dân cả hai miền (mô hình một quốc gia nhiều nhà nước). Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được [[Việt Nam Dân chủ Cộng hòa]] và các nước Xã hội chủ nghĩa thừa nhận là lực lượng chiến đấu chủ lực, Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ đóng vai trò hỗ trợ về hậu cần và chính trị. Quân Giải phóng trực tiếp thành lập và quản lý các quân khu, các đơn vị chủ lực tại miền Nam.<ref>[http://tapchiqptd.vn/zh/tim-hieu-truyen-thong-quan-su/quan-giai-phong-mien-nam-viet-nam--buoc-phat-trien-moi-ve-to-chuc-luc-luong-vu-trang-nhan-/220.html Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam - bước phát triển mới về tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước], Tạp chí Quốc phòng Toàn dân, 13/02/2011</ref><ref name="bqp">[http://mod.gov.vn/wps/portal/!ut/p/b1/vZXZsqo4FIafxQegDMh4GQ1DGIKMAjcUToiIICoiT9_YvaurencdvTlnJ1ep-lNf_n-tWpkm02ianLOuyLNbUZ-z0-uc8KkCiSvOaQgA8DiAZ9AITGk8QGEUxKNgoUKNFUwARFMdBVALXMmZzQCc_fe-CkMFYN0DcCFwzEJlp6tpdIxBv6idhyxHy7hRnhVSKtrtFXsgekC8OiGoNejrLTzdpZRC6NFzgt-aZqEzxXZvG2IOlzgQve5sspyVAovRdFxRWs6EKwVXlxpuUI8yaGXsIuEfSppVx-312Tcw23NX3u8pvpOkZtc7jIMX_OLLE_jFguCTp3_uvxF8yHQ1Td4iWOFL8C72vwVvPMSjQPj1I7mp_6pMOl9f8VgZL23izUbh01ulPm39gHGjxNioDs8iHqJLZnjYroNG46QA8Fjmd4m9prn6oIcadb1cqD2zDqwhi5TDdkY2bZvUhfis40q77PdK1gopavyZ1JuRgEjHEDA4icMOurpoSOaQ-XAsXRmpqkU1Ordpg6AOMK-waT8_5TdGl9mH3dd-jO4yM9yGoVlT7QYPSDSPBwHvujmUDP6-OMP1odEMP_NZeaPSc4MUfehdhTIV0ZqlVlgBqXAMuaVdnN1yJ9TZKaWgfom4Lph8CEzkX4EBNvWOzwYP5eAeB9f0fTy7lofRz2qwZCEkvmJ7W0IICpcA0MQvaZ20MbjJve0TbbkN3WAOF2MDt90nIPvHgbb2Avo659kOA1jmpx1yvx2oT5P8VK_HwRZGcTNH9djbEO0flbr0pK1H9rknkeRe9HpjRPGR0u5hmcrAEqvab-gOd6U8N52rNzDsamkF-TZmm9wINM7SxFN27TQM2eKkewa-V_yzsC-IjeJWQYJsyW0W7_fmUjIsVmm0tG_OJ3RzfBIo61x0b45KNrnIA3PXSvV2Z9-3qRvEs-hyrtEqrCk2n0ymRKur3ffYvg0Q5_-xgcdgoblNghoAP8S3cnjFplu3hFitCmgUPElwHbyysf2jBSyy_4oN0sCjyw9Anv1hoCP8aeD31gc_HSn_24Gr8VN6O-9X7e683bXTpgo6w-RdbYj-3Tu1q772AOFk8heKIgF8/dl4/d5/L3dHQSEvUUtRZy9nQSEh/ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam], BỘ QUỐC PHÒNG NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM, </ref>. Bộ Tư lệnh Miền chính thức giải thể ngày 7 tháng 7 năm 1976 sau khi hợp nhất hai bộ máy Nhà nước.
 
Sau 1975, Việt Nam công khai Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam là Đảng Bộ Miền Nam của Đảng Lao động và Đảng bộ Miền Nam về mặt thực chất chịu sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Trung ương Cục và các Khu ủy trực thuộc Trung ương hoặc phân Trung ương Cục chỉ đạo. Phía Mỹ đến nay vẫn có người không biết điều này, và khi sử dụng các tài liệu từ thời chiến để lại, nên họ vẫn hay nhầm lẫn về Quân đội nhân dân và Quân giải phòng. Họ tưởng quân ngoài bắc vào do Đảng Lao động lãnh đạo và quân tại chỗ do Đảng Nhân dân Cách mạng lãnh đạo. Thực chất thì đều do Đảng Lao động (Đảng Lao động có quyền lưu lại cơ sở chính trị do Hiệp định Geneva cho phép) lãnh đạo về mặt chính trị, nhưng từ 1962 đến 1975 thì không công khai mà để Đảng Nhân dân Cách mạng công khai lãnh đạo (về công khai, cơ sở chính trị tại miền Nam của Đảng Lao động được tách biệt về pháp lý để thuận tiện cho việc tham gia chính trường miền Nam). Việc tách đảng bộ miền Nam thành Đảng riêng về công khai chỉ thể hiện tạo cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng có đường lối riêng với đường lối Mặt trận Tổ quốc và Đảng Lao động thi hành ngoài Bắc, và vị thế chính trị cho phong trào, tạo thuận lợi để lực lượng Cộng sản chính thức tham chính ở miền Nam. Bên cạnh đó, việc này cũng gia tăng vị thế hợp pháp cho phong trào cách mạng ở miền Nam do tình trạng một quốc gia có nhiều nhà nước cũng được chính Liên hợp quốc thừa nhận trong Hiến chương của mình. Tiêu biểu có [[Liên Xô]], có ba phiếu trong Liên hợp quốc gồm Liên Xô, Belarus và Ukraina<ref>[http://antg.cand.com.vn/Ho-so-mat/Lien-Xo-tung-co-toi-3-ghe-tai-Lien-Hiep-Quoc-294971/ Liên Xô từng có tới 3 ghế tại Liên Hiệp Quốc?], Báo An ninh Thế giới, 06/07/2009</ref>
Sau 1975 không hề có sự hợp nhất nào về mặt Đảng như một số tài liệu Mỹ viết vì thực tế từ trước các cấp ủy Đảng ở miền Nam đều chịu chỉ đạo theo chiều dọc xuyên suốt (danh xưng "Đảng Nhân dân Cách mạng" chỉ tồn tại về mặt pháp lý). Sau 1975 phía cách mạng cũng công khai vai trò lãnh đạo về mặt chính trị của Đảng Lao động với Chính phủ cách mạng lâm thời (điều này phù hợp với quy định các lực lượng chính trị ở nguyên tại chỗ của Hiệp định Geneva-1954), nhưng hai chính phủ chỉ chính thức hợp nhất sau Tổng tuyển cử 1976.
 
Sau khi Việt Nam thống nhất bằng Hiệp thương Tổng tuyển cử 1976, Quân Giải phóng được sáp nhập vào [[Quân đội nhân dân Việt Nam|Quân đội Nhân dân Việt Nam]], nhiều đơn vị bị đổi phiên hiệu hoặc sáp nhập vào các đơn vị của [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]]. Đây là sự hợp nhất về mặt pháp lý tuy nhiên cũng tạo ra những khó khăn nhất định cho công tác truy tìm hài cốt liệt sĩ sau này.<ref>[http://nguoicocong.gov.vn/tintuc/chitiettin/tabid/101/itemid/932/giai-ma-ky-hieu-phien-hieu-phuc-vu-tim-kiem-quy-tap-hai-cot-liet-si.aspx#sthash.WB3jq9aR.dpbs Giải mã ký hiệu, phiên hiệu phục vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ], Bộ LĐ-TB & XH - Cục Người có công</ref><ref>[http://tapchiqptd.vn/zh/tin-tuc-thoi-su/giai-ma-ky-hieu-phien-hieu-don-vi-co-so-de-xac-minh-tim-kiem-quy-tap-hai-cot-liet-si/704.html Giải mã ký hiệu, phiên hiệu đơn vị - Cơ sở để xác minh, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ], Tạp chí Quốc phòng Toàn dân, 14/07/2011</ref>
 
== Tổ chức ==
Đối với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa, sự phân biệt lực lượng vũ trang cách mạng ở miền nam gồm Quân đội nhân dân là "Quân đội Bắc Việt Nam" với Quân giải phóng Miền Nam là "quân Việt cộng" dựa trên các thông tin tình báo, do thám mà họ thu thập được là di chuyển từ ngoài Bắc vào (mà họ cho là do Đảng Lao động lãnh đạo) và hình thành tại chỗ (mà họ cho là Đảng Nhân dân cách mạng lãnh đạo), họ không thể nắm được lãnh đạo cụ thể từng đơn vị quân là ai và trong từng đơn vị có ai là người bắc hay nam (sau 1975 khi Đảng Nhân dân cách mạng công khai là Đảng bộ Miền Nam của Đảng Lao động thì họ mới rõ thực chất chỉ là một ban lãnh đạo chung-điều này phù hợp với quy định các lực lượng chính trị được ở nguyên tại chỗ trong Hiệp định Genève và Hiệp định Paris). Thực tế nhiều đơn vị có cả bộ đội quê miền bắc lẫn nam, nhất là ở Miền (B2). Như đã nói ở trên, các lực lượng chính quy (Hoa Kỳ thường quy là "quân miền Bắc") cũng có người miền nam (phần lớn là gửi ra Bắc huấn luyện sau đó lại vào nam chiến đấu). Trong chiến tranh thì các đơn vị quân đội luôn phiên chế khác nhau, khi sáp nhập, khi chia tách, hay bổ sung.{{fact|date=7-2014}} Các sư đoàn chính quy 5, 9, 3 Sao Vàng, 302 có rất đông đảo chiến sĩ quê miền nam, hoặc thậm chí trong các đơn vị từ miền bắc chuyển vào cũng không thiếu người miền nam. Nhiều khi, vì lý do thời chiến, trong hàng ngũ các lực lượng vũ trang tại chỗ (bộ đội địa phương, du kích) lại có bộ đội tới từ miền bắc.
 
Hoạt động chính của các lực lượng vũ trang địa phương là phối hợp với chủ lực, trừ một số đơn vị, tổ chức gan dạ đánh luôn không cần chủ lực. Do cách thức chiến đấu bán thời gian của du kích (hầu hết là dân ở địa phương) nên số lượng du kích rất đông đảo, không chỉ nam thanh niên mà còn có phụ nữ, người lớn tuổi...
 
Trong thời gian chiến tranh, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa biết là chính xác đối phương đều là do [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]] chỉ đạo, nhưng thường là tỏ ra không biết để nhằm tuyên truyền gây chia rẽ. Sự không công khai chỉ đạo của Đảng (Bộ Chính trị ngoài Bắc và Trung ương Cục) của bên Quân giải phóng Miền Nam và coi như không biết, luôn tỏ ra Mặt trận và miền Bắc "độc lập" của phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đều là những thủ thuật chính trị của hai bên. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không muốn thừa nhận chính quyền Việt Nam Cộng hòa mà công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là người đại diện hợp pháp của nhân dân miền Nam vừa để nâng cao vị thế của Chính phủ Cách mạng lâm thời, vừa để hạ thấp vị thế của Việt Nam Cộng hòa và cũng để ngăn chặn khả năng một cường quốc khác như Liên Xô hoặc Trung Quốc được có mặt trong [[Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1968-1972|Hội nghị Paris]]. Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa tuy biết thực chất là một (lãnh đạo chung, mục tiêu chung) nhưng cố tình không chỉ rõ để gây chia rẽ đội ngũ lãnh đạo bên cách mạng.{{fact|date=7-2014}}
==Các chiến dịch, trận đánh tiêu biểu==
Trận Ấp Bắc;
 
Trận Bình Giã;
 
Trận Đồng Xoài;
 
Trận Vạn Tường;
 
Trận Núi Thành;
 
Chiến dịch Ba Gia;
 
Chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Junction City;
 
Chiến dịch Mậu Thân 1968;
 
Chiến dịch Xuân - Hè 1972;
 
Chiến dịch Tây Nguyên;
 
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng;
 
Chiến dịch Hồ Chí Minh.