Khác biệt giữa các bản “Andrea Pirlo”

n
Đã lùi lại sửa đổi của 115.73.164.135 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Theroid480002
n (Đã lùi lại sửa đổi của 115.73.164.135 (Thảo luận) quay về phiên bản cuối của Theroid480002)
Thẻ: Lùi tất cả
==Cấp câu lạc bộ==
 
Pirlo sinh tại [[Flero]], [[Lombardia|Lombardy]], Ý. Anh trai của anh từng chơi cho Brescia tại giải Serie C. Anh bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp ở câu lạc bộ [[Brescia Calcio|Brescia]] trong trận đấu với [[Reggina Calcio|Reggina]]. Sau một thời gian được đưa lên đội hình chính thức của Brescia, anh được huấn luyện viên [[Mircea Lucescu]] của câu lạc bộ [[F.C. Internazionale Milano S.p.A.|Internazionale]] để mắt và sau đó gia nhập Internazionale chơi ở vị trí cầu thủ kiến thiết. Pirlo không hợp với vị trí này, cùng với việc tuyển Internazional kết thúc mùa giải [[Serie A 1998–99|1998–99]] ở vị trí thứ 8, anh được chuyển sang Reggina dưới dạng hợp đồng cho mượn. Sau một mùa giải chơi tốt, anh được gọi trở lại Internazional nhưng tiếp tục chơi mờ nhạt, anh lại được Internazionale cho Brescia mượn trong nửa cuối mùa giải.
=== Giai đoạn đầu ===
Pirlo sinh tại [[Flero]], [[Lombardia|Lombardy]], Ý. Anh bắt đầu sự nghiệp thể thao ở đội bóng trẻ địa phương Flero, rồi sau đó là Voluntas trước khi chuyển tới khoác áo đội trẻ Brescia vào năm 1994. Lúc này, anh vẫn chủ yếu thi đấu ở vị trí tiền vệ công. Một năm sau, khi mới 16 tuổi, Andrea Pirlo được huấn luyện viên [[Mirea Lucescu]] đôn lên đội một và có trận đấu đầu tiên ở Serie A trong trận đấu gặp Reggina ngày 21 tháng năm, trở thành cầu thủ trẻ nhất lịch sử Brescia ra sân tại Serie A. Ở mùa giải Serie B 1996-1997, Pirlo giành được vị trí chính thức trong đội hình chính và giúp đội bóng trở lại giải đấu cao nhất cấp quốc gia bằng chức vô địch. Ngay mùa giải sau đó, anh có bàn thắng đầu tiên ở Serie A trong chiến thắng 4-0 trước Vicenza ngày 19 tháng 10 1997.
 
Màn trình diễn tiềm năng đã giúp anh cập bến Internazionale năm 1998 đang được dẫn dắt bởi huấn luyện viên cũ của anh là Lucescu. Tuy nhiên trong mùa giải năm đó Pirlo không thể có được chỗ đứng trong đội hình chính, trong khi Inter cũng chỉ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 8. Mùa 1999-2000 sau đó Andrea bị đem cho Reggina mượn cùng với [[Roberto Baronio]] và [[Mohamed Kallon]]. Dẫu cho đã có màn trình điễn ấn tượng ở mùa giải bị đem cho mượn, Pirlo vẫn không thể có được vị trí chính thức ngày trở về Inter khi chỉ có 4 lần ra sân ở nửa đầu mùa giải sau đó, và lại một lần nữa bị đem cho mượn, lần này là ở đội bóng cũ Brescia. Tại đây, Pirlo đã có cơ hội chơi bóng cùng thần tượng thuở nhỏ là [[Roberto Baggio]]. Cũng trong lần trở lại này, huấn luyện viên [[Carlo Mazzone]] đã tạo ra một bước ngoặt trong sự nghiệp của Andrea khi thường sử dụng anh chơi lùi sâu hơn hàng tiền vệ với nhiềm vụ phát động tấn công nhờ vào khả năng chuyền vượt tuyến. Brescia từ nguy cơ xuống hạng, trở lại mạnh mẽ sau đó khi cán đích vị trí thứ 7 cuối mùa, đồng thời vào đến Tứ kết Coppa Italia và được tham dự [[UEFA Intertoto Cup]] 2001. Dấu ấn đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Pirlo khi trở lại Brescia có lẽ là đường chuyền dài kiến tạo cho Roberto Baggio ghi bàn đẹp mắt vào lưới Juventus
 
===Milan===
Sau 3 mùa bóng không thể hiện được nhiều với Internazionale, ngàyPirlo 30chính tháng 6 2001, Pirlothức bịđược bán chosang câu lạc bộ kình địch AC Milan với giá 35 tỷ [[lire]] Ý<ref>{{chú thích báo|url=http://www.inter.it/aas/news/reader?L=it&N=3284|title= L'Inter ha ceduto pirlo al Milan |date=ngày 30 tháng 6 năm 2001|accessdate=ngày 3 tháng 2 năm 2010|publisher=inter.it|language=Ý}}</ref> (khoảng 1718 triệu [[đồng Euro|Euro]]). Cuộc chuyển nhượng còn kèm theo việc trao đổi [[Cristian Brocchi]] lấy [[Andrés Guglielminpietro|Guly]]; [[Paolo Ginestra]] lấy [[Matteo Bogani]].<ref>{{chú thích báo|url=http://archiviostorico.corriere.it/2002/novembre/06/moda_calciatore_salvabilanci_co_0_0211067362.shtml|title=Va di moda il calciatore salvabilanci|author=Malagutti Vittorio|date=ngày 6 tháng 11 năm 2002|accessdate=ngày 31 tháng 3 năm 2010|work=Corriere della Sera|language=Ý}}</ref><ref>{{chú thích báo|url=http://archivio2.unita.it/v2/carta/showoldpdf.asp?anno=2003&mese=03&file=08SPO22a|title=Milan e Inter, plusvalenze incrociate con la vendita dei calciatori|date=ngày 8 tháng 3 năm 2003|accessdate=ngày 31 tháng 3 năm 2010|work=l'Unità|language=Ý}}</ref>
[[Tập tin:Andrea Pirlo.jpg|nhỏ|upright|Andrea Pirlo làm nóng trước trận đấu giữa [[AC Milan]] và [[A.C.F. Fiorentina|Fiorentina]]]]
 
Tại Milan, đặc biệt là dưới sự dẫn dắt của Carlo Ancelotti, Andrea Pirlo đã tìm được hướng phát triển của mình để trở thành cầu thủ đẳng cấp thế giới ở vai trò tiền vệ thu hồi và kiến thiết bóng từ tuyến dưới. KhởiVới đầucâu từlạc Carlobộ Mazzonenày, sauanh đógiành hai [[Fatihdanh Terim]]hiệu vô địch Serie Arồihai Carlochức Ancelotti tạiđịch Milan[[Cúp đãcác địnhđội hình vịđịch tríbóng củađá Pirloquốc gia châu Âu|Champions League]]. TrongBên nhữngcạnh đó đồanh 4-3-2-1còn hayđoạt 4-3-1-2hai của[[Italian mình,Cup]] Ancelotti thườnghai xuyên[[Siêu xếpcúp Pirlobóng chơiđá ngaychâu trênÂu|Siêu hàngcúp phòngchâu ngựÂu]] với vaiMilan tròvào kiếncác thiếtnăm 2003, bên2007. cạnhKỉ nhữngniệm tàikhó năngphai hàngnhất đầucủa anh tuyếntrong trêngiai nhưđoạn [[Rivaldo]]này, [[Rui Costa]] haysút [[Kaká]],Penalty lấphỏng đi(bị khoảng trốngthủ môn [[DemetrioJerzy Albertini|AlbertiniDudek]] đểcản lạiphá) ngàytại rờitrận Milan.chung Pirlokết trởChampions thànhLeague nhânnăm tố2005, quanqua trọngđó gián hàngtiếp tiềnđể vệ[[Liverpool]] Rossoneri,lên tạongôi thành nhữngđịch bộtrong độimột đángtrận gờmlội khungược vựcdòng giữangoạn sânmục.<ref>{{Chú vớithích [[Gennaroweb|url=http://en.archive.uefa.com/competitions/ucl/history/season=2004/round=1972/match=1086988/index.html Gattuso]],|tiêu [[Clarenceđề=Liverpool Seedorftriumph in Turkey|Clarencenhà Seedolf]]xuất haybản=En.archive.uefa.com [[Massimo|ngày Ambrosini]],tháng=ngày những25 ngườitháng hỗ5 trợnăm anh2005 trong|ngày côngtruy táccập=ngày phòng28 ngự.tháng 6 năm 2012}}</ref>
 
Pirlo, ban đầu đã chơi như một tiền vệ công dưới thời huấn luyện viên [[Carlo Mazzone]] để hỗ trợ cho [[Roberto Baggio]] tại Brescia. Đến khi sang AC Milan, dưới sự bố trí của huấn luyện viên [[Carlo Ancelotti]], Pirlo chuyển xuống tuyến dưới ngang hàng với tiền vệ phòng ngự [[Gennaro Gattuso]] với nhiệm vụ thu hồi bóng để phát động tấn công, anh làm tốt công việc điều khiển lối chơi toàn đội đến mức được tặng cho biệt danh "Nhạc trưởng" ([[tiếng Ý]]: Maestro).<ref>{{Chú thích web|url=http://content.usatoday.com/topics/photo/People/Athletes/International+Soccer/Andrea+Pirlo/06VCdx06Vk8uu/0 |tiêu đề=Andrea Pirlo Topics Page|nhà xuất bản=Content.usatoday.com |ngày tháng=ngày 6 tháng 2 năm 2008 |ngày truy cập=ngày 15 tháng 5 năm 2012}}</ref> Anh dẫn đầu [[Giải vô địch bóng đá Ý|Serie A]] mùa bóng 2002–03 ở bốn thống kê đặc biệt: cầu thủ chuyền nhiều nhất (2589 đường chuyền), cầu thủ giữ bóng nhiều nhất (123 giờ và 39 phút), cầu thủ giành bóng được nhiều nhất (661 lần), và chuyền thành công nhiều nhất (2093 đường). Trung bình anh chuyền chính xác 90 đường chuyền 1 trận. Tại mùa bóng 2006-2007, anh là cầu thủ chơi nhiều nhất cho Milan với tổng cộng 2782 phút. Vào tháng 10 năm 2007, anh được FIFA đề cử cho danh hiệu [[Cầu thủ của năm]] (cuối cùng người đồng đội tại AC Milan, [[Kaká]] đã giành danh hiệu này). Sau khi Kaká và huấn luyện viên [[Carlo Ancelotti]] rời Milan vào mùa hè 2009, [[Chelsea F.C.|Chelsea]] ngỏ ý muốn mua Pirlo với giá 12 triệu [[đô la|đôla]] cộng với cầu thủ [[Claudio Pizarro]]. AC Milan từ chối điều đó. {{cần chú thích|date=August 2009}} Vào ngày 5 tháng 8, chủ câu lạc bộ là ông [[Silvio Berlusconi]] khẳng định Pirlo không phải để bán, và muốn anh ở lại Milan cho đến cuối sự nghiệp.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.goal.com/en/news/10/italy/2009/08/05/1423746/milan-star-pirlo-pleased-chelsea-transfer-saga-is-over |tiêu đề=Milan Star Pirlo Pleased Chelsea Transfer Saga Is Over |nhà xuất bản=Goal.com |ngày tháng=ngày 5 tháng 8 năm 2009 |ngày truy cập=ngày 15 tháng 5 năm 2012}}</ref> Ngày 21 tháng 10 năm 2009, Pirlo đã ghi một bàn thắng tuyệt đẹp vào lưới [[Real Madrid C.F.|Real Madrid]] từ khoảng cách 30 mét, trong trận đấu mà AC Milan đã thắng với tỉ số 3-2.<ref>{{Chú thích web|tác giả 1=Paolo Bandini |url=http://www.guardian.co.uk/football/2009/oct/21/champions-league-clockwatch-live |tiêu đề=Champions League: Real Madrid v Milan - as it happened|nhà xuất bản=Guardian |ngày tháng= |ngày truy cập=ngày 28 tháng 6 năm 2012}}</ref>
 
Trong trận đấu với [[Genoa C.F.C.|Genoa]] vào ngày 25 tháng 9 năm 2010, Pirlo đã thực hiện một đường kiến tạo tinh tế vào vòng cấm địa giúp [[Zlatan Ibrahimović|Zlatan Ibrahimovic]] hòn toàn thoải mái để đưa bóng vào lưới.<ref>{{Chú thích web|url=http://soccernet.espn.go.com/report?id=304842&cc=5901 |tiêu đề=Report: AC Milan v Genoa - Italian Serie A - ESPN Soccernet |nhà xuất bản=Soccernet.espn.go.com |ngày tháng=ngày 25 tháng 9 năm 2010 |ngày truy cập=ngày 28 tháng 6 năm 2012}}</ref> Ngày 2 tháng 10 cùng năm, Pirlo ghi một bàn từ khoảng cách 40 yard vào lưới [[Parma F.C.|Parma]] để đưa Milan về vị trí số 1 mùa bóng.<ref>{{Chú thích web|url=http://www.goal.com/en-gb/match/48700/parma-vs-milan/report |tiêu đề=Parma 0-1 AC Milan: Superb Andrea Pirlo strike sends Massimiliano Allegri's men top of Serie A |nhà xuất bản=Goal.com |ngày tháng=ngày 2 tháng 10 năm 2010 |ngày truy cập=ngày 28 tháng 6 năm 2012}}</ref> Ngày 14 tháng 5 năm 2011, Pirlo ra sân lần cuối cùng trong màu áo AC Milan. Trận này anh vào sân từ ghế dự bị trong hiệp 2 thay cho [[Massimo Ambrosini]] và cùng câu lạc bộ ăn mừng chức vô địch Serie A mùa giải 2010-2011 với trận thắng đậm đà 4-1 trước Cagliari.<ref>{{Chú thích web|url=http://soccernet.espn.go.com/report?id=304918&cc=5901 |tiêu đề=Report: AC Milan v Cagliari - Italian Serie A - ESPN Soccernet |nhà xuất bản=Soccernet.espn.go.com |ngày tháng=ngày 14 tháng 5 năm 2011 |ngày truy cập=ngày 28 tháng 6 năm 2012}}</ref> Bốn ngày sau đó, Pirlo xác nhận anh sẽ rời AC Milan khi mùa giải kết thúc, sau khi phía anh và AC Milan đã không thỏa thuận được hợp đồng mới.<ref>{{chú thích báo|url=http://www.skysports.com/story/0,19528,11095_6939053,00.html|title=Pirlo leaving Milan|date=ngày 18 tháng 5 năm 2011|accessdate=ngày 18 tháng 5 năm 2011|publisher=Skysports.com}}</ref> Trong mùa giải cuối cùng tại Milan, Pirlo chỉ ra sân 17 trận, không ghi được bàn và có 3 đường chuyền thành bàn..<ref>{{Chú thích web|url=http://soccernet.espn.go.com/player/_/id/11888/andrea-pirlo?cc=5901 |tiêu đề=Andrea Pirlo Bio, Stats, News - Football / Soccer - - ESPN Soccernet |nhà xuất bản=Soccernet.espn.go.com |ngày tháng=ngày 19 tháng 5 năm 1979 |ngày truy cập=ngày 28 tháng 6 năm 2012}}</ref>
[[Tập tin:Pirlo Juve.JPG|nhỏ|Friendly match against [[Club América|América]] in New York City]]