Khác biệt giữa các bản “Lê Duẩn”

không có tóm lược sửa đổi
Thẻ: Sửa đổi di động Sửa đổi qua ứng dụng di động Sửa đổi từ ứng dụng Android
| chú thích =
}}
'''Lê Duẩn''' ([[1907]]–[[1986]]) là [[Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bí thư Thứ nhất]] Trung ương [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]] từ [[1960]] đến [[1976]], [[Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Tổng Bí thư]] [[Đảng Cộng sản Việt Nam]] từ [[1976]] đến [[1986]]. Ông là Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam có tổng thời gian tại vị lâu nhất với 25 năm, 303 ngày. Từ [[1960]] cho đến khi qua đời năm [[1986]], ông có một ảnh hưởng chính trị rất lớn tại Việt Nam, và theo một số nhận định khi Việt Nam thống nhất<ref>{{Chú thích web | url = http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/05/060502_leduan_profile.shtml | tiêu đề = BBCVietnamese.com | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 9 tháng 7 năm 2014 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref> ông là nhà lãnh đạo có vị trí cao nhất và có ảnh hưởng nhất tại [[Việt Nam]] trong những năm tháng tại vị.<ref>{{Chú thích web | url = http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/05/060504_leduan_emergence.shtml | tiêu đề = BBCVietnamese.com | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 9 tháng 7 năm 2014 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref>
 
Ông chính là một trong những [[kiến trúc sư]] hàng đầu trong cuộc [[chiếnChiến tranh Việt Nam]], một cuộc chiến chống lại [[Hoa Kỳ]] và các đồng minh kéo dài suốt 20 năm<ref>{{Chú thích web | url = https://www.nytimes.com/2017/02/07/opinion/the-30-years-war-in-vietnam.html?_r=0|| tiêu đề = The 30-Years War in Vietnam | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 11 tháng 2 năm 2017 | nơi xuất bản = www.nytimes.com| ngôn ngữ = }}</ref>. Lê Duẩn chính là người đã vạch ra chiến lược cách mạng ở miền Nam Việt Nam với tác phẩm ''Đề cương cách mạng miền Nam''.<ref>{{Chú thích web|url=http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/de-cuong-cach-mang-mien-nam-duoc-so-thao-o-dau-82859.htm|tiêu đề=Đề cương cách mạng miền Nam được sơ thảo ở đâu?|ngày tháng = ngày 8 tháng 4 năm 2002 |website=Báo Người lao động|tác giả=Trần Hữu Phước}}</ref> Từ bản [[Đề cương chính trị|đề cương]] này, hàng loạt phong trào đấu tranh chống Mỹ ở [[Miền Nam (Việt Nam)|miền Nam]] nổ ra, dọn đường cho [[Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam|Quân Giải phóng miền Nam]] và [[Quân đội Nhân dân Việt Nam]] tấn công và tiếp quản Sài Gòn vào năm [[1975]] kết thúc [[Chiến tranh Việt Nam]]. Sau đó, ông còn tiếp tục lãnh đạo đất nước trong thời kỳ xảy ra 2 cuộc [[Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979|chiến tranh biên giới phía Bắc]] [[Chiến tranh biên giới Tây Nam|Tây Nam]] (chống lại [[Trung Quốc]] và [[Khmer Đỏ]]).
 
==Sự nghiệp ==
Lê Duẩn tên thật là '''Lê Văn Nhuận''', sinh ngày [[7 tháng 4]] năm [[1907]], tại làng [[Làng Bích La|Bích La]], xã [[Triệu Đông, Triệu Phong|Triệu Đông]], huyện [[Triệu Phong]], tỉnh [[Quảng Trị]] trong một gia đình [[nông dân]],<ref name="quangtri">{{Chú thích web|url=http://gioithieu.quangtri.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Tuyen-dung/Di-tich-Khu-luu-niem-Tong-Bi-thu-Le-Duan-93|tiêu đề=Di tích Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn|ngày=2012-04-12|ngày truy cập=2014-07-09|tác giả=Nguyễn Duy Hùng|nơi xuất bản=Trang TTĐT tỉnh Quảng Trị|ngôn ngữ=}}</ref> quê gốc của ông được cho là ở làng Phương Cai, xã Cẩm Duệ, huyện [[Cẩm Xuyên]], tỉnh [[Hà Tĩnh]]<ref>{{Chú thích web | url = http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/01/140121_leduan_temple.shtml | tiêu đề = Lập đền thờ ông Lê Duẩn ở Hà Tĩnh - BBC Vietnamese - Việt Nam | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 9 tháng 7 năm 2014 | nơi xuất bản = | ngôn ngữ = }}</ref> Cha ông là Lê Hiệp, làm nghề mộc. Mẹ ông là Võ Thị Đạo, làm ruộng. Sau đó ông theo gia đình về sinh sống tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành cùng huyện, ở bên kia dòng [[sông Thạch Hãn]]. Khu lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn hiện nay được xây dựng tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành.
 
===Trước 1945 ===
Năm [[1920]], ông học hết [[Giáo dục tiểu học|Tiểu học]]. Sau đó ông lên tỉnh học Trung học được 1 năm thì nghỉ vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.<ref name="quangtri"/> Khi còn nhỏ, có lần mẹ ông tôi nói với ông: ''“Đến bao giờ nhà mình mới có một nồi khoai như nồi khoai nhà bên cạnh?”''. Lê Duẩn kể ông đã khóc khi nghe câu nói ấy. Ông thương xót mẹ bao nhiêu thì ông càng thấy căm giận chế độ thực dân Pháp.<ref name="tienphong.vn">{{Chú thích web|url=https://www.tienphong.vn/xa-hoi/con-trai-co-tong-bi-thu-le-duan-lich-su-da-khong-cong-bang-voi-ong-1032773.tpo|tiêu đề=Con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: 'Lịch sử đã không công bằng với ông'|ngày tháng = ngày 29 tháng 7 năm 2016 |website=Báo Tiền phong}}</ref> Khi lớn lên, chứng kiến cảnh đất nước bị thống trị bởi thực dân Pháp, Lê Duẩn đã nuôi hy vọng phải cứu nước. Ông tâm sự: ''"Hồi 15 tuổi, đọc lịch sử, tôi buồn lắm, nghĩ nhất định phải đi cứu nước".''<ref name="tapchicongsan.org.vn">{{Chú thích web|url=http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2012/15480/Dong-chi-Le-Duan-voi-van-de-con-nguoi-trong-van-hoa.aspx|tiêu đề=Đồng chí Lê Duẩn với vấn đề con người trong văn hóa Việt Nam|ngày tháng = ngày 7 tháng 4 năm 2012 |website=[[Tạp chí Cộng sản]]|tác giả=Vũ Văn Phúc}}</ref>
* Tháng 5 năm [[1926]], ông làm ở Sở Hỏa xa Đà Nẵng.
* Năm [[1927]], ông làm nhân viên thư ký đề pô Sở Hỏa xa Đông Dương tại [[Hà Nội]].
 
===1957-1975 ===
Theo lời kể của con trai Lê Duẩn, [[Hồ Chí Minh|Hồ Chủ tịch]] đã chọn ông là người lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng ở miền Nam, vì ông là người vừa nắm rõ đường lối của Trung ương vừa có trình độ lý luận, hiểu chủ[[Chủ nghĩa Marx|Chủ nghĩa Mác]]. Chiến trường Nam bộBộ ngày ấy vừa xa xôi vừa phức tạp, để có một sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương, phải cần một người am hiểu cả địa thế lẫn lòng dân. Vì vậy năm [[1957]], Hồ Chủ tịch đã gọi ông ra [[Hà Nội]] gấp và nhanh nhất có thể để trực tiếp giúp điều hành công việc chung của [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng]].<ref>{{Chú thích web|url=http://www.sggp.org.vn/nhung-mau-chuyen-nho-ve-bac-ho-va-ba-toi-206864.html|tiêu đề=Những mẩu chuyện nhỏ về Bác Hồ và Ba tôi|ngày=2008-04-07|ngày truy cập=9 tháng 7 năm 2014|tác giả=|nơi xuất bản=[[Sài Gòn Giải Phóng|Báo Sài Gòn Giải Phóng Online]]|ngôn ngữ=}}</ref>
 
Cuối năm 1957, ông ra [[Hà Nội]], vào [[Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Ban Bí thư Trung ương Đảng]], chủ trì công việc của Ban Bí thư và là Phó Ban chuẩn bị văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng. Tháng 9/1960, tại [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II|Đại hội toàn quốc lần thứ III]] của [[Đảng Cộng sản Việt Nam|Đảng Lao động Việt Nam]], ông được bầu vào [[Ban Chấp hành Trung ương]][[Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam|Bộ Chính trị]], giữ chức Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 
Trong giai đoạn này, do sức khỏe suy giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh phải giảm dần các hoạt động chính trị, ông muốn tìm người kế tục sự nghiệp đấu tranh cách mạng của mình. Trong một số lần tiếp xúc ngoại giao, chẳng hạn như khi nói chuyện với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô [[Alexey Nikolayevich Kosygin]] vào năm 1963, Hồ Chí Minh nói rằng ông sẽ dần bàn giao mọi công việc cho người kế cận là Lê Duẩn. Kể từ năm 1967, theo một số nhận định thì ông Duẩn đã trở thành người có ảnh hưởng và vị thế cao nhất trong Bộ Chính trị.<ref>{{Chú thích web|url=http://books.google.com.vn/books?id=QAktEkUqFJMC&pg=PA229&lpg=PA229&dq=The+Genius+of+Viet+Nam's+General+Vo+Nguyen+Giap+Currey+Le+Duan&source=bl&ots=v1oHXRaBs9&sig=Be10RWcfCed6k9oB2U6Po-6eZCA&hl=en&sa=X&ei=tDJXUsDkD-fQiAfI4YFo&ved=0CCwQ6AEwAQ#v=onepage&q=The%20Genius%20of%20Viet%20Nam's%20General%20Vo%20Nguyen%20Giap%20Currey%20Le%20Duan&f=false|tiêu đề=Victory at Any Cost: The Genius of Viet Nam's Gen. Vo Nguyen Giap|ngày=|ngày truy cập=9 tháng 7 năm 2014|nhà xuất bản=Potomac Books. Inc|tác giả=Cecil B. Currey|nơi xuất bản=Google Books|ngôn ngữ=tiếng Anh}}</ref>
 
Theo [[Stein Tonnesson]], Lê Duẩn là một [[nhà lãnh đạo]] xuất thân từ địa phương. Ông chưa bao giờ đi khắp thế giới lúc còn trẻ như [[Hồ Chí Minh]]. Ông cũng chưa bao giờ sát cánh làm việc với Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1940 như [[Phạm Văn Đồng]], [[Võ Nguyên Giáp]] hay [[Trường Chinh]]. Quyết định của Hồ Chí Minh trao chức lãnh đạo Đảng cho Lê Duẩn năm [[1957-]]–[[1960]], và việc Hồ Chí Minh ủng hộ Lê Duẩn trong cuộc bầu cử năm 1960, phải được hiểu như là một cách để đảm bảo sự đoàn kết quốc gia. Ở thời kỳ mà đất nước Việt Nam đang bị chia đôi, và nhiều cán bộ Miền Nam đã tập kết ra Bắc, cách hay nhất để bảo đảm [[Đảng Lao động Việt Nam]] sẽ đại diện cho tất cả người Việt Nam ở mọi miền đất nước, là đưa một cán bộ từ Miền Nam lên lãnh đạo toàn Đảng, đây có thể chính là động lực thúc đẩy đưa đến sự lựa chọn của Hồ Chí Minh.<ref name=stein />
 
Lê Duẩn là người chủ trương tích cực thúc đẩy quá trình thống nhất đất nước bằng cách đẩy mạnh cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam. Cùng với quân sự là ngoại giao, ông rất chú ý đàm phán Paris. Ông có nói với ông Lê Đức Thọ rằng: ''"Anh sang bên đó, một điều không được thay đổi là Mỹ rút và mình không rút".''<ref>{{Chú thích web|url=http://vov.vn/chinh-tri/tam-nhin-le-duan-204580.vov|tiêu đề=Tầm nhìn Lê Duẩn|ngày=2012-04-06|ngày truy cập=26 tháng 1 năm 2016|tác giả=Phan Quang|nơi xuất bản=[[Đài Tiếng nói Việt Nam|Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam]]|ngôn ngữ=}}</ref>
 
Trong thời gian chuẩn bị diễn ra [[sự kiện Tết Mậu Thân|tổngTổng tiến công Tết Mậu Thân 1968]], Chủ tịch Hồ Chí Minh đang trong đợt dưỡng bệnh dài ngày tại [[Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa|Trung Quốc]] (ông liên tục ốm nặng kể từ năm 1966, hầu như cả năm [[1967]], ông ở Trung Quốc chữa bệnh). Tuy vậy, Hồ Chủ tịch vẫn quay về Việt Nam 2 lần (vào tháng 7 và tháng 12 năm 1967) để chỉ đạo và phê duyệt quyết định tiến hành cuộc tổng[[Sự kiện Tết Mậu Thân|Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968]]<ref>Giữa đợt dưỡng bệnh dài ngày tại Bắc Kinh, ông có quay lại Việt Nam vào tháng 12 năm 1967 chỉ để phê duyệt quyết định về Tổng Tấn công rồi quay lại Bắc Kinh ngay. Nguồn: Duiker., tr 557 (chương 15).</ref><ref>[https://archive.is/20130421190329/www1.baohaugiang.com.vn/detailvn.aspx?item=2402 Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968<!-- Bot generated title -->]</ref> Tối ngày 23 tháng 12, Hồ Chí Minh đi máy bay về đến Hà Nội, đích thân Lê Duẩn cùng [[Phạm Văn Đồng]], [[Lê Đức Thọ]] ra đón Hồ Chí Minh tại sân bay, cùng về nhà và báo cáo công tác chuẩn bị cho Hồ Chí Minh. Ngày [[28 tháng 12]] năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà sàn của Hồ Chủ tịch, Hồ Chí Minh cùng Lê Duẩn và các thành viên khác của Bộ Chính trị đã thống nhất lần cuối kế hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân<ref name=phuong9>[http://www.phuong9govap.gov.vn/bac-ho-voi-tet-mau-than-nam-ay.html Bác Hồ với tết Mậu Thân năm ấy]</ref>.
 
Năm [[1969]], [[Hồ Chí Minh]] qua đời. Lê Duẩn là người đọc điếu văn tang lễ, ông đã nấc nghẹn nhiều lần khi đọc lời truy điệu ''“…Hồ“… Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao. Đau thương này thật là vô hạn! Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta…”''. Đây là lần duy nhất người ta thấy ông khóc trong các [[Phim tài liệu|bộ phim tài liệu]].
 
Đại tướng [[Lê Đức Anh]] viết về Lê Duẩn trong giai đoạn này:<ref name=":0">{{Chú thích web|url=http://toquoc.vn/gio-thu-25/dai-tuong-le-duc-anh-viet-ve-nguyen-tong-bi-thu-le-duan-200922.html|tiêu đề=Đại tướng Lê Đức Anh viết về nguyên Tổng bí thư Lê Duẩn|website=Báo điện tử Tổ quốc|tác giả=Khuất Biên Hòa}}</ref>
:''Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã chỉ rõ: Nhằm lúc Mỹ rút nhưng chưa rút xong và không thể quay lại, ngụy ở lại thì chưa ổn định, đây là thời cơ tốt nhất để ta tổng tiến công và nổi dậy đánh trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Thời cơ là vô cùng quan trọng. Thời cơ là sức mạnh. Đây là một tư duy sáng suốt.''
 
===1975-1986 1975–1986 ===
Tại các [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV|Đại hội toàn quốc lần thứ IV]] (12/1976) và [[Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V|lần thứ V]] (3/1982), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư đến khi mất. Tại Đại hội V, do sức khỏe Lê Duẩn yếu, Ban Chấp hành Trung ương giao một số nhiệm vụ của ông cho Trường Chinh. Ông cũng đảm nhiệm chức Bí thư [[Quân ủy Trung ương]] từ năm 1978 đến năm 1984.
 
Ngay sau khi Trung Quốc chiếm quần đảo [[Hoàng Sa]] vào năm 1974, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu gây khó khăn cho [[Hoa kiều]] khi muốn thăm thân nhân ở Trung Quốc, và cũng không cho nhiều người Trung Quốc sang miền Bắc thăm người thân.<ref name="Szalontai">[http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2009/03/090324_paracels_hanoi_reassessment.shtml Im lặng nhưng không đồng tình], Balazs Szalontai, 24 tháng 3 năm 2009, BBC online</ref>
 
Sau khi [[Chiến tranh Việt Nam]] kết thúc, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 9 năm 1975, Tổng Bí thư Lê Duẩn nêu vấn đề Hoàng Sa trong chuyến thăm Trung Quốc. Phản ứng không nhượng bộ của Trung Quốc làm ông khó chịu.<ref name="Szalontai"/> Ngày 15 tháng 3 năm 1979, [[Bộ Ngoại giao (Việt Nam)|Bộ Ngoại giao Việt Nam]] công bố "Bị vong lục về vấn đề biên giới Việt -Trung", trong đó lên án việc Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 28 tháng 9 năm 1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố [[Sách trắng quốc phòng (Việt Nam)|Sách trắng]], giới thiệu 19 tài liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.<ref>{{Chú thích sách|tựa đề=Văn kiện: Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua|nhà xuất bản=[[Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật]]|nơi=[[Việt Nam]]|ngôn ngữ=[[tiếng Việt]]|trang=72|author=Bộ ngoại giao Việt Nam|date=1979-10}}</ref> Việc này đã khiến Trung Quốc bất bình và bắt đầu một thời kỳ quan hệ căng thẳng giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc.<ref>Nayan Chanda, ''Brother Enemy. Wars after war'', Harcourt Brace Jovanovich Publisher, 1986, trang 21
</ref>
 
====Chiến tranh biên giới====
Trong thời gian ông nắm quyền cao nhất Việt Nam từ năm 1975 đã xảy ra hai cuộc chiến tranh: [[Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam|Chiến tranh biên giới Tây Nam]] và [[Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979|Chiến tranh biên giới phía Bắc]].
* Chiến tranh biên giới Tây Nam: nhằm phản công lại các hoạt động quân sự của quân Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc người dân và đốt phá làng mạc Việt Nam trong những năm 1975-19781975–1978, Việt Nam tiến hành một loạt các chiến dịch quân sự tấn công vào Campuchia. Kết quả là chế độ Khmer Đỏ bị đánh đổ, một Hội đồng cách mạng được thành lập do [[Heng Samrin]] làm chủ tịch, dưới sự hỗ trợ của quân đội Việt Nam đã tiếp quản Campuchia.
*Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt, nổ ra vào ngày [[17 tháng 2]] năm [[1979]] khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước.<ref name="LD1">[http://laodong.com.vn/chinh-tri/ve-cuoc-chien-tranh-bien-gioi-viettrung-thang-21979-can-duoc-xem-nhu-chien-thang-chong-ngoai-xam-179402.bld Cần được xem như chiến thắng chống ngoại xâm], Lao động, 11 tháng 2 năm 2014</ref>. Mục tiêu của Trung Quốc khi phát động cuộc chiến là buộc Việt Nam rút quân khỏi [[Campuchia]] (để Khmer Đỏ có thể quay lại nắm quyền). Sau 3 tuần tấn công, quân Trung Quốc bị thiệt hại nhiều và rút quân, trong khi không đạt mục đích là buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia.
 
Ông đã lãnh đạo đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn này, thành công trong việc tiêu diệt chế độ [[Khmer Đỏ]] ở Campuchia và ngăn chặn được quân Trung Quốc ở phía Bắc.
 
====Khó khăn kinh tế====
Tuy nhiên bên cạnh những thành công về quốc phòng, Ban Chấp hành TW do ông đứng đầu đã phải đối mặt với những khó khăn lớn về kinh tế, và hậu quả của các cuộc chiến tranh khiến kinh tế lâm vào khủng hoảng, Việt Nam bị cô lập trong suốt giai đoạn 1976-1986. Giáo sư [[Trần Văn Thọ]] viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh khi Lê Duẩn nắm quyền: "''Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất (về kinh tế) trong lịch sử Việt Nam. Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài. Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979, sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976. Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sông của người dân vô cùng khốn khó. Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam... Nguy cơ thiếu ăn kéo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng "phá rào" trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương. Nhưng phải đợi đến đổi mới (tháng 12/1986) mới có biến chuyển thực sự. Do tình trạng đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam trong 10 năm trước đổi mới chỉ tăng 35%, trong thời gian đó dân số tăng 22%. Như vậy, GDP đầu người trung bình tăng chỉ độ 1% (mỗi năm)''"<ref>[http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai33/201533_TranVanTho.pdf Việt Nam 40 năm qua và những năm tới:Cần một nền kinh tế thị trường định hướng phát triển ], Trần Văn Thọ, tapchithoidai, số 33, tháng 7 năm 2015</ref>
Tuy nhiên bên cạnh những thành công về quốc phòng, Ban Chấp hành TW do ông đứng đầu đã phải đối mặt với những khó khăn lớn về kinh tế, và hậu quả của các cuộc chiến tranh khiến kinh tế lâm vào khủng hoảng, Việt Nam bị cô lập trong suốt giai đoạn 1976-1986. Giáo sư [[Trần Văn Thọ]] viết về tình trạng kinh tế 10 năm đầu sau chiến tranh khi Lê Duẩn nắm quyền:
"''Mười năm sau 1975 là một trong những giai đoạn tối tăm nhất (về kinh tế) trong lịch sử Việt Nam. Chỉ nói về mặt kinh tế, là một nước nông nghiệp (năm 1980, 80% dân số sống ở nông thôn và 70% lao động là nông dân) nhưng Việt Nam thiếu ăn, nhiều người phải ăn bo bo trong thời gian dài. Lượng lương thực tính trên đầu người giảm liên tục từ năm 1976 đến 1979, sau đó tăng trở lại nhưng cho đến năm 1981 vẫn không hồi phục lại mức năm 1976. Công thương nghiệp cũng đình trệ, sản xuất đình đốn, vật dụng hằng ngày thiếu thốn, cuộc sông của người dân vô cùng khốn khó. Ngoài những khó khăn của một đất nước sau chiến tranh và tình hình quốc tế bất lợi, nguyên nhân chính của tình trạng nói trên là do sai lầm trong chính sách, chiến lược phát triển, trong đó nổi bật nhất là sự nóng vội trong việc áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa trong kinh tế ở miền Nam... Nguy cơ thiếu ăn kéo dài và những khó khăn cùng cực khác làm phát sinh hiện tượng "phá rào" trong nông nghiệp, trong mậu dịch và trong việc quyết định giá cả lương thực đã cải thiện tình hình tại một số địa phương. Nhưng phải đợi đến đổi mới (tháng 12/1986) mới có biến chuyển thực sự. Do tình trạng đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam trong 10 năm trước đổi mới chỉ tăng 35%, trong thời gian đó dân số tăng 22%. Như vậy, GDP đầu người trung bình tăng chỉ độ 1% (mỗi năm)''"<ref>[http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai33/201533_TranVanTho.pdf Việt Nam 40 năm qua và những năm tới:Cần một nền kinh tế thị trường định hướng phát triển ], Trần Văn Thọ, tapchithoidai, số 33, tháng 7 năm 2015</ref>
 
Sau 1975, tỷ lệ thương tật, chưa kể số nhiễm chất độc hóa học tại Việt Nam là trên 10%, đây là tỷ lệ cao nhất thế giới. Mỹ và các nước thân Mỹ bao vây cấm vận, trong khi đó Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu thì mắc sai lầm nghiêm trọng để rồi dẫn đến sụp đổ. Khối [[SEV]], nguồn viện trợ duy nhất của Việt Nam đã cạn dần rồi mất hẳn. Lê Duẩn đã cố gắng chèo chống để nước nhà không bị sụp đổ, tuy có gian nan vất vả nhưng vẫn trụ vững.
 
===Dân tộc độc lập===
Trong suốt 26 năm, với cương vị là Bí thư thứ nhất và sau đó là Tổng Bí thư, Lê Duẩn đã để lại nhiều di sản với [[lịch sử Việt Nam]]. Ông có công lao trong sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ để giải phóng và thống nhất dân tộc, cũng như ý chí kiên cường, tinh thần cảnh giác trong việc chống lại [[chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc]]. Theo một số nhận định, Lê Duẩn luôn có tự tin khi đứng trước những nhà lãnh đạo Trung Quốc, ông từng nói: ''"Chúng ta muốn thắng Mỹ, có một điều rất quan trọng là chúng ta phải không được sợ Mỹ, nhưng cũng không được sợ Trung Quốc và không được sợ Liên Xô"''. Cả Bộ Chính trị vỗ tay hoan hô ý kiến đó, tuy nhiên những văn bản họp Bộ Chính trị khi đó hầu như chưa được công bố, khiến những câu chuyện về tinh thần dân tộc của Lê Duẩn không thực sự được biết rộng rãi trong dân chúng<ref name="source9">{{Chú thích web | url = http://motthegioi.vn/xa-hoi/co-tong-bi-thu-le-duan-chung-ta-khong-duoc-phep-so-trung-quoc-84883.html | tiêu đề = Cố TBT Lê Duẩn: 'Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc!' | tác giả = | ngày = | ngày truy cập = 9 tháng 7 năm 2014 | nơi xuất bản = Đọc báo, tin tức, thời sự với Báo Điện Tử Một thế giới | ngôn ngữ = }}</ref>
 
Khi còn sống, theo một số nhận định, Lê Duẩn lúc nào cũng cho rằng hiểu Trung Quốc là chuyện sống còn của dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiến tranh chống Mỹ, rất nhiều lần Trung Quốc muốn dùng những khoản viện trợ để lồng ghép vào đó những toan tính riêng của họ, nhưng Lê Duẩn không nhận bất cứ một khoản viện trợ nào mà ông cho là có nguy cơ đối với nền độc lập của Việt Nam. Một nhà nghiên cứu về quan hệ Việt Nam với Trung Quốc đã từng nhận xét về ông: "Với Tổng Bí thư Lê Duẩn, cái gì nhịn được thì nhịn, nhưng ông tuyệt đối không bao giờ nhượng bộ những điều quá đáng, nguy hại cho an ninh quốc gia". Vì tư tưởng này, Lê Duẩn đã trở thành lãnh đạo Việt Nam làm Trung Quốc "gai mắt" trong giai đoạn ấy.