Khác biệt giữa các bản “Quan Hưng”

không có tóm lược sửa đổi
|}
 
'''Quan Hưng''' ([[chữ Hán]]: 關興), [[tên tự|tự]] là '''An Quốc''' (安國), là một vị tướng nước [[Thục Hán]] trong thời kỳ [[Tam Quốc]] củatrong [[lịch sử Trung Hoa]].
 
== Trong sử sách ==
Quan Hưng là con thứ hai của [[Quan Vũ]] và là em trai của [[Quan Bình]]. Khi cha và anh ở lại trấn giữ Kinh châu, Quan Hưng vào Ích châu với [[Lưu Bị]] từ nhỏ và lớn lên tại Ích châu. Quan Hưng trở thành người kế tục tước Hán Thọ đình hầu của cha mình khi cả Quan Vũ và Quan Bình bị quân [[Đông Ngô]] bắt sống và xử chém vàogiết năm 219.
 
Từ khi còn trẻ, ông đã được [[Gia Cát Lượng]] - thừa tướng của [[Thục Hán]] - quý mến. Khi Quan Hưng 19 tuổi, ông được phong chức làm quan trong chính quyền Thục Hán.
 
== Gia quyến ==
Quan Hưng có 2 người con là Quan Thống và Quan Di. Quan Thống làm tới chức Hổ bôn trung lang tướng nước [[Thục Hán]], cũng mất sớm và không có con trai nối dõi.
 
Quan Di là người thừa kế còn lại của họ Quan sau khi Quan Thống mất, được tập tước Hán Thọ đình hầu của Quan Vũ. Khi [[Thục Hán]] mất, tướng Ngụy là [[Chung Hội]] vào Thành Đô (264), một thuộc tướng của Chung Hội là Bàng Hội vốn là con trai [[Bàng Đức]], do thù Quan Vũ giết cha nên đã bắt cả nhà họ Quan giết hết, trong đó có Quan Di<ref name="ldp394">Lê Đông Phương, sách đã dẫn, tr 394</ref>.
 
==Trong [[Tam Quốc diễn nghĩa]]==
 
Theo [[tiểu thuyết]] ''[[Tam Quốc diễn nghĩa]]'', một tiểu thuyết được [[La Quán Trung]] viết vào [[thế kỷ 14]], Quan Hưng được mô tả là một vị tướng giỏi.
 
Trong hồi 81, Quan Hưng thi thố với [[Trương Bào]], con trai của [[Trương Phi]] để tranh nhau vị trí tiên phong trong đội quân tấn công [[Đông Ngô]] để trả thù cho cha của họ là Quan Vũ và Trương Phi. Lưu Bị đã bắt họ thề kết nghĩa anh em như Quan Vũ và Trương Phi (Trương Bào lớn hơn Quan Hưng 1 tuổi).
61.693

lần sửa đổi