Khác biệt giữa các bản “Hapten”

không có tóm lược sửa đổi
(AlphamaEditor, Executed time: 00:00:02.7252429 using AWB)
'''Hapten''' là phân tử nhỏ (tự nhiên hay nhân tạo) một mình không có khả năng gây ra đáp ứng miễn dịch nhưng vẫn được nhận biết bởi các sản phẩm của đáp ứng này (nếu có). Như vậy hapten có tính đặc hiệu nhưng không có tính sinh miễn dịch. Khi hapten gắn với một protéin tải thành một phức hợp thì phức hợp này có tính sinh miễn dịch. Điều đó có nghĩa là nếu chỉ đưa hapten vào cơ thể thì không có đáp ứng miễn dịch đặc hiệu xảy ra, nhưng nếu đưa phức hợp Protein-hapten vào thì cơ thể sẽ đáp ứng bằng cách sản xuất KT chống lại cả protein lẫn hapten. Kháng thể chống hapten do phức hợp kích thích tạo ra có thể phản ứng cả với hapten tự do.Trong trường hợp này ta có thể xem hapten như là một quyết định KN được thêm vào bên cạnh những quyết định KN khác đã có mặt trên phân tử protein.
{{Chất lượng kém|ngày=03
 
|tháng=11
Các cơ chế không đáp ứng miễn dịch có thể thay đổi và liên quan đến các cơ chế miễn dịch phức tạp, nhưng có thể bao gồm các tín hiệu đồng kích thích vắng mặt hoặc không đủ từ các tế bào trình kháng nguyên.
|năm=2018
 
|lý do=quá ngắn, thiếu nguồn gốc}}
Haptens đã được sử dụng để nghiên cứu viêm da tiếp xúc dị ứng (ACD) và các cơ chế của bệnh viêm ruột (IBD) để gây ra phản ứng tự miễn dịch. <ref>{{cite web|last1=Erkes|first1=Dan|last2=Selvan|first2=Senthamil|title=Hapten-Induced Contact Hypersensitivity, Autoimmune Reactions, and Tumor Regression: Plausibility of Mediating Antitumor Immunity|url=https://www.hindawi.com/journals/jir/2014/175265/|website=Journal of Immunology Research|publisher=Hindawi|accessdate=21 April 2017}}</ref>
Một chất mà tự nó không sinh được đáp ứng miễn dịch nhưng có thể phản ứng với các sản phẩm của một phản ứng miễn dịch đặc hiệu. Các hapten là những phân tử nhỏ mà không bao giờ có thể gây ra một đáp ứng miễn dịch khi được đưa vào cơ thể bởi riêng chúng, nhưng có thể gây đáp ứng miễn dịch khi chúng kết hợp với phân tử mang nó. Tuy nhiên, hapten tự do có thể phản ứng với các sản phẩm của đáp ứng miễn dịch sau khi sản phẩm đó đã được sinh ra bởi phức hợp happten-chất mang. Hapten có đặc tính kháng nguyên nhưng không có tính sinh miễn dịch.
 
Khái niệm về haptens nổi lên từ công trình của Karl Landsteiner [[Karl Landsteiner]]<ref>{{cite book
| last=Landsteiner
| first=Karl
| title=The Specificity of Serological Reactions
| publisher=Harvard Univ. Press
| location=Cambridge
| year=1945
}}</ref><ref>{{cite book
| last=Landsteiner
| first=Karl
| title=The Specificity of Serological Reactions, 2nd Edition, revised
| publisher=Courier Dover Publications
| year=1990
| isbn=0-486-66203-9
}}</ref>, người cũng đi tiên phong trong việc sử dụng haptens tổng hợp để nghiên cứu các hiện tượng miễn dịch<ref>{{cite journal
| title=Synthetic Haptens as Probes of Antibody Response and Immunorecognition
| last=Shreder
| first=Kevin
| journal=Methods
| volume=20
| issue=3
|date=March 2000
| pages=372–379
| doi=10.1006/meth.1999.0929
| publisher=Academic Press
| pmid=10694458
}}</ref>.
==Tham khảo==
{{tham khảo}}
{{sơ khai}}
[[Thể loại:Hệ miễn dịch]]
Người dùng vô danh