Khác biệt giữa các bản “Trúc Khê (nhà văn)”

thêm ảnh
(thêm ảnh)
{{Infobox Writer
'''Trúc Khê''' ([[1901]] - [[1947]]) tên thật là '''Ngô Văn Triện'''; các bút danh khác là: ''Cẩm Khê, Kim Thượng, Đỗ Giang, Khâm Trai, Ngô Sơn, Hạo Nhiên Đình''. Ông là [[nhà văn]], [[nhà báo]], nhà cách mạng [[Việt Nam]].
| name = Trúc Khê Ngô Văn Triện
| image = Ngô Văn Triện.jpg
|bgcolour = silver
| caption = Trúc Khê Ngô Văn Triện
| birth_date = [[1901]]
| birth_place = [[Từ Liêm]], [[Hà Nội]], [[Việt Nam]]
| death_date = [[1947]]
| death_place = [[Hà Nội]]
| occupation = [[nhà văn]], [[nhà báo]], nhà cách mạng [[Việt Nam]]
| movement =
| magnum_opus = Chợ chiều (thơ), Trăm lạng vàng (tiểu thuyết)
| influenced =
| influences =
| website =
| footnotes =
}}
'''Trúc Khê''' ([[1901]] - [[1947]]) tên thật là '''Ngô Văn Triện'''; các bút danh khác là: ''Cẩm Khê, Kim Thượng, Đỗ Giang, Khâm Trai, Ngô Sơn, Hạo Nhiên Đình''. Ông là [[nhà văn]], [[nhà báo]], nhà cách mạng [[Việt Nam]].
 
==Cuộc đời==
'''Trúc Khê''' sinh ngày 22 [[tháng 5]] năm [[1901]] trong một gia đình gốc nông dân và tiểu thủ công ở thôn Thị Cấm, xã Phương Canh, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh [[Hà Đông]] (nay là xã [[Xuân Phương]], huyện [[Từ Liêm]], [[Hà Nội]]).
 
Năm lên 6 tuổi, ông học [[chữ Hán]] với một ông đồ. Năm 11 tuổi, ông học [[quốc ngữ]] ở trường [[Pháp]]-Việt và tự học thêm [[tiếng Pháp]]. Đến năm 14 tuổi ([[1915]]), triều đình [[Huế]] bỏ khoa thi [[chữ Hán]], ông tiếp tục tự học. Năm 16-17 tuổi, ông đi làm thợ đan đăng ten rồi sang làm thợ đóng sách ở nhà in Thực Nghiệp, [[Hà Nội]].
 
Năm 19 tuổi, bài viết đầu tay của ông: ''Cải lương hương tục'', được đăng trên tờ ''Trung Bắc tân văn'' năm [[1920]].
 
Khoảng năm [[1927]], ông dự định tìm người đồng chí hướng thành lập đảng Tân Dân, chủ trương đánh đuổi [[thực dân Pháp]]. Nhưng rồi ông gặp [[Phạm Tuấn Tài]] với nhóm ''Nam Đồng thư xã''; rồi sau nữa, khi [[Việt Nam quốc dân đảng]] được thành lập, ông theo đảng phái này.
Ông hoạt động chính trị cho đến năm [[1929]], thì bị nhà cầm quyền [[Pháp]] bắt giam ở [[Hỏa Lò]] (Hà Nội), nhận án 2 năm tù treo và 5 năm quản thúc.
Năm [[1941]] đến [[1945]], ông tham gia phong trào truyền bá Quốc ngữ tại [[Hà Nội]].
 
Năm [[1946]], [[Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến|Kháng chiến toàn quốc bùng nổ]], ông cùng gia đình lên ở Trại Ro, xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, tỉnh [[Hà Tây]] (nay thuộc [[Hà Nội]]). Ở đây, ông giao liên đưa lên chiến khu [[Việt Bắc]] tham gia kháng chiến chống Pháp, nhưng chưa kịp đi thì lâm bệnh nặng rồi mất (26 [[tháng 8]] năm [[1947]]) tại nơi đó, hưởng dương 46 tuổi.
 
Năm [[2005]], Ủy ban nhân dân [[Thành phố Hà Nội]] đặt tên phố Trúc Khê cho một con đường tại phường Láng Hạ, quận [[Đống Đa]], nối đường [[Nguyễn Chí Thanh]] với phố [[Vũ Ngọc Phan]].
Trong Lời bạt in trong tập thơ [[Lý Bạch]] do Trúc Khê dịch, Lữ Huy Nguyên cũng đã viết:
:''Ông là người ưa thích hoạt động xã hội, tinh thần tự học rất cao và liên tục. Hồi còn đi học, ông học cả trong lúc ăn, lúc xay lúa giã gạo, đi đâu cũng mang sách theo. Ông là người có tinh thần dân tộc ngay cả trong suy nghĩ, sáng tác, nghiên cứu cũng như trong sinh hoạt, ứng xử. Một người giàu lòng hiếu khách, yêu thiên nhiên hoa cỏ''<ref>Trích ''Nhớ Trúc Khê'' [http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=86399#ixzz0MG1zmo8s]</ref>.
 
===Tác phẩm===
Trong bộ sách ''Nhà văn hiện đại'', [[Vũ Ngọc Phan]] xếp Trúc Khê vào ''Những nhà viết ký sự & truyện ký''. Đề cập đến hai tác phẩm của Trúc Khê là ''Cao Bá Quát'' và ''Nguyễn Trãi'', Vũ Ngọc Phan có lời nhận xét chung rằng: