Khác biệt giữa các bản “Nghĩa Hưng”

n
Typo fixing, replaced: biển Đông → Biển Đông, ệ nhất → ệ Nhất, ệ nhị → ệ Nhị (2), ệ tam → ệ Tam (3), hế kỉ 19 → hế kỷ XIX, nhà Minh → Nhà Minh using AWB
n (→‎Vị trí địa lý: replaced: 3 con → ba con using AWB)
n (Typo fixing, replaced: biển Đông → Biển Đông, ệ nhất → ệ Nhất, ệ nhị → ệ Nhị (2), ệ tam → ệ Tam (3), hế kỉ 19 → hế kỷ XIX, nhà Minh → Nhà Minh using AWB)
Nghĩa Hưng nằm lọt trong ba con sông: [[sông Đào]], [[sông Ninh Cơ]], [[sông Đáy]].
 
Phía đông huyện Nghĩa Hưng giáp các huyện [[Hải Hậu]], [[Trực Ninh]], phía tây giáp [[Kim Sơn]], [[Yên Khánh]] (tỉnh [[Ninh Bình]]), phía bắc giáp hai huyện [[Nam Trực]] [[Ý Yên]] với ranh giới là ba con sông trên và phía nam giáp [[biểnBiển Đông]].
 
=== Diện tích và dân số ===
Năm Minh Đạo 3 (2-1044) [[Lý Thái Tông]] đi đánh Chiêm Thành về qua cửa Đại Ác, cho đổi tên Đại ác làm Đại An<ref>Theo Đại Việt Sử Ký toàn thư</ref>.
 
Thời thuộc [[nhàNhà Minh]] đổi là huyện Đại Loan, thuộc phủ Kiến Bình.
 
Nhà [[Nhà Lê sơ|Lê]] lấy lại tên cũ là Đại An đặt thuộc phủ Nghĩa Hưng (1469).
5. Vũ Huy Trác (1730 - 1793): Quê xã Lộng Điền, huyện Đại An nay là thôn Lộng Điền, xã [[Nghĩa Đồng, Nghĩa Hưng|Nghĩa Đồng]], đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu [[Lê Hiển Tông|Cảnh Hưng]] 33(1772) đời Lê Hiển Tông. Năm 1788 ông giữ chức Lễ bộ Tả thị lang, kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp, Giám quân đạo Sơn Nam. Đến thời Tây Sơn ông về quê dạy học. Ông nổi tiếng giỏi văn chương, người đường thời tôn vinh ông là "Thần phú". Tác phẩm của ông có Giang nam lão phố thi tập, Nam Chân nhân vật khảo, Nhất thân thường hành quốc âm ca, Liêu Động di biên (chuyển thể 10 bài ca dao chữ Hán của Trần Nhật Duật thành 10 bài phú Nôm).
 
6. Vũ Diệm (Thế kỉkỷ 19XIX): Quê xã Lộng Điền, huyện Đại An nay là thôn Lộng Điền, xã [[Nghĩa Đồng, Nghĩa Hưng|Nghĩa Đồng]], đỗ [[Phó bảng]] khoa Giáp Thìn niên hiệu [[Thiệu Trị]] 4(1844), làm quan Bố chánh [[Hải Dương]], thăng Hình bộ Tả thị lang. Sau về nghỉ. Tác phẩm của ông có Lộng Điền Vũ Tiến sĩ thi tuyển.
 
7. Đinh Văn Chất (1843-1887) tên chữ Giả Phu,hiệu là Trực Hiên đậu tú tài năm Tự Đức Đinh mão, đậu Hoàng Giáp Tiến sĩ năm Tự Đức Ất Hợi 1875. Sử sách ghi lại Ông quê làng KIm Khê Nghệ An nhưng cuộc đời gắn liền với vùng đất Nghĩa Hưng. Năm Hàm Nghi thứ nhất,Ông được bổ làm Tri phủ Nghĩa Hưng nổi tiếng liêm cán, tấu xét tự dân không nhiễu, gặp việc thực hành thưởng kim khánh vàng đỏ trên mặt có khắc bốn chữ " Liêm Bình Cần Cán ". Năm 1883. Pháp chiếm được thành Nam Định, kéo binh thuyền đánh phủ Nghĩa Hưng, Ông đào hào trồng chuối bầy quân nghiêm chỉnh ngồi giữa công đường thề cùng Phủ Thành sống chết với Giặc. Quan binh Pháp tiến đánh và dụ hàng nhiều lần không được phải lui quân. Sau hưởng ứng phong trào Cần Vương, Ông chiêu tập nghĩa quân chống quân Pháp và triều đình tay sai, cuối cùng do lực lượng không cân sức cuộc khởi nghĩa thất bại, Ông bị giặc bắt và sát hại.Ngày nay để ghi nhớ công lao của Ông tại thành phố Vinh có đặt tên một con đường mang tên Ông - đường Đinh Văn Chất.