Khác biệt giữa các bản “Dmitri Ivanovich Mendeleev”

n
Thêm giải thưởng huy chương Copley
n (Thêm giải thưởng huy chương Copley)
Mendeleev cũng nghiên cứu thành phần của các giếng dầu, và giúp thành lập [[nhà máy lọc dầu]] đầu tiên tại [[Nga]].
 
Năm 1905, Mendeleev được bầu làm một thành viên của [[Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển]]. Đồng thời trong năm này ông được tặng thưởng [[Huy chương Copley]] vàng danh giá. Năm sau Hội đồng Nobel Hoá học đã đề xuất với Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao [[Danh sách người đoạt giải Nobel Hóa học|Giải Nobel Hoá học]] năm 1906 cho Mendeleev vì phát minh ra bảng tuần hoàn của ông. Ban Hoá học của Viện Hàn lâm Thuỵ Điển đã ủng hộ đề xuất này. Viện Hàn lâm sau đó dường như đã ủng hộ lựa chọn của Uỷ ban như họ đã làm trong hầu hết mọi trường hợp. Không may thay, tại cuộc họp toàn thể của Viện, một thành viên bất mãn của Uỷ ban Nobel, Peter Klason, đề xuất tư cách ứng cử viên cho [[Henri Moissan]] người được ông ưa thích. [[Svante Arrhenius]], dù không phải là một thành viên của Uỷ ban Nobel Hoá học, có rất nhiều ảnh hưởng trong Viện và cũng gây sức ép để loại bỏ Mendeleev, cho rằng bảng tuần hoàn quá cũ để được công nhận sự khám phá ra nó vào năm 1906. Theo những người thời đó, Arrhenius có động cơ từ sự đố kỵ của ông với Mendeleev vì Mendeleev chỉ trích [[Các giả thuyết phản ứng dựa trên axít#Định nghĩa Arrhenius|lý thuyết phân ly]] của Arrhenius. Sau những cuộc tranh cãi nảy lửa, đa số thành viên Viện Hàn lâm bỏ phiếu cho Moissan. Những nỗ lực để đề cử Mendeleev năm 1907 một lần nữa không thành công bởi sự phản đối kịch liệt của Arrhenius.<ref name="isbn0-7167-3103-7">{{Chú thích sách |author=Friedman, Robert M. |title=The politics of excellence: behind the Nobel Prize in science |publisher=Times Books |location=New York |year=2001 |pages=32-34 |isbn=0-7167-3103-7}}</ref>
 
== Qua đời ==
58

lần sửa đổi